Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 26/12/2005
Cần tiếp tục nghiên cứu, khai thác, phát triển văn hoá dân gian truyền thống của dân tộc Thái Sơn La - Tây Bắc


Múa xòe

Trải qua nhiều năm chiến tranh ác liệt, rồi thiên tai mưa lũ đã làm thất lạc mai một nhiều di sản văn hoá trong kho tàng văn hoá dân gian của dân tộc Thái - Tây Bắc. Để bảo tồn vốn văn hoá ấy, công tác nghiên cứu, sưu tầm, khai thác đã được tiến hành trong nhiều năm liên tục ngay từ sau ngày thành lập Khu tự trị Tây Bắc 7/5/1955 và từ Khu chia tách thành lập lại 3 tỉnh Sơn La, Lai Châu và Nghĩa Lộ đầu năm 1963 đến nay. Song, do có nhiều nguyên nhân: về kinh phí, về cán bộ, về tổ chức chỉ đạo… cho nên vẫn còn nhiều việc chưa làm được hoặc chưa toàn diện, triệt để đúng với tầm vóc của chính nó và yêu cầu của tình hình nhiệm vụ mới.

Từ thực tiễn đó, yêu cầu nghiên cứu, sưu tầm, khai thác, phát triển vốn văn hoá dân tộc: sưu tầm lại những cái đã mất, tìm lại những cái có thể tìm được (kể cả những cái đã mất và sẽ mất đi khi xây dựng công trình Thuỷ điện Sơn La) là một việc làm hết sức cần thiết, quan trọng, cấp bách. Một công việc lớn có nhiều khó khăn nhưng phải làm ngay, nếu để muộn thì sẽ càng khó khăn hơn nhiều đó là vốn Văn học cổ của người Thái ở các vùng: Mường Sang (Mộc Châu), Mường Tấc (Phù Yên), Mường Vạt (Yên Châu), Song Pe (Bắc Yên), Mường Chiến, Mường Trai (Mường La), Mường Tranh (Mai Sơn), Mường Sại, Mường Piểng (Thuận Châu), Mường Chiên (Quỳnh Nhai), Mường Lẩm (Sông Mã), Mường Và (Sốp Cộp), Chiểng An (thị xã Sơn La). Bởi lẽ, những người hiểu biết chữ Thái cổ, thông thuộc các tác phẩm văn học cổ, am hiểu nhiều về “Hịt Bản, Khoong mường” (Luật bản, Lệ mường) đều đã cao tuổi và đã mất gần hết, khối lượng kiến thức khổng lồ, quí báu của dân tộc cũng theo họ ra đi.

Trong kho tàng văn hoá cổ của các dân tộc nói chung, dân tộc Thái nói riêng cũng có rất nhiều thể loại. Mỗi loại, mỗi kiểu, mỗi thứ đều rất hay, có tác dụng thực tế thiết thực và hay nhất vẫn là mảng Văn học dân tộc Thái, nói rõ và cụ thể hơn là mảng ca dao, dân ca, tục ngữ, phương ngôn, châm ngôn của dân tộc Thái.
Đối với dân tộc Thái, văn vần phát triển hơn văn xuôi. Trong thực tế, với hàng trăm hàng nghìn tác phẩm nổi tiếng đều là văn vần, chưa có tác phẩm văn xuôi lớn nào.

Người Thái tự gọi mình là “Phủ Tay, Côn Tay, Chựa sai Tay, Neo tay”. Người Thái ở “Xíp song păn ra” (Mười hai nghìn ruộng) tại Vân Nam Trung Quốc. Người Thái ở “Cảu păn na” (Chín nghìn ruộng” tại vùng Bắc Lào. Người Thái ở “Lạn Na” (Một triệu ruộng) tại Đông Bắc Thái Lan. Người Thái ở Việt Nam, miền Tây Bắc Việt Nam vùng có 4 cánh đồng lớn: nhất Thanh (Mường Thanh, Điện Biên Phủ), nhì Lò (Mường Lò, Nghĩa Lộ cũ), tam Tấc (Mường Tấc, Phù Yên Sơn La), tứ Than (Mường Than, Than Uyên, Nghĩa Lộ cũ).

Người Thái ở Trung Quốc 12.000 ruộng.
Người Thái ở Lào 9.000 ruộng.
Người Thái ở Thái Lan 1.000.000 ruộng.
Người Thái ở Việt Nam, tại 4 cánh đồng lớn miền Tây bắc Việt Nam.

Các con số về ruộng nêu trên người Thái không nói rõ đơn vị đo đếm là bao nhiêu mà chỉ nói đến con số nghìn (ở Lào), vạn (ở Trung Quốc), triệu (ở Thái Lan), 4 cánh đồng lớn ở miền Tây bắc Việt Nam. Các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu sẽ phải làm rõ thêm về lịch sử của cả một cộng đồng cư dân lúa nước đã nêu trên.
Theo “Quan tô mương” (Truyện kể Bản Mường) của người Thái, họ sinh tụ tập trung ở một vùng “Hin xem sảu” (3 ngọn núi châu đầu vào nhau), “Nặm cảu que” (trạc của 9 con sông con suối), “Pák Te Tao” (thượng nguồn của Sông Đà, Sông Thao)… đều ứng đúng với vùng “Xíp soong păn na” thuộc tỉnh Vân Nam Trung Quốc. Đến thế kỷ thứ XI người Thái thiên di đến sinh sống, thiết lập Bản Mường ổn định cho đến ngày hôm nay.

Là một dân tộc có chữ viết riêng. Với hàng nghìn năm lịch sử phát triển, chính họ đã sản sinh ra một kho tàng văn hoá, tài sản vô giá của người Thái và cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Người Thái ở miền Tây bắc Việt Nam có hơn 1.500 tác phẩm văn học cổ, 100% viết bằng chữ Thái cổ qua giấy dướng, mực Tàu. Nhiều tác phẩm nổi tiếng như: Xống chụ son sao, Khun Lú - Nàng ủa, ý Nọi - Nàng Xua, Tản chụ xiết sương, Tản chụ sống sương, ý ưởi-ý Noọng, Hiên Hom, Văn Hoan…

Điều nổi bật lí thú ở nội dung các tác phẩm Văn học dân gian Thái là mảng “Son côn” (dạy người), “Quan son côn” (lời dạy người), “Xư son côn” (sách dạy người).

Lời khuyên răn, dạy bảo không chỉ bó hẹp trong phạm vi với dân tộc Thái mà là với mọi người trong cộng đồng. Trong mối quan hệ chung, tất cả chúng ta đều có mối quan hệ qua lại, gắn bó ràng buộc lẫn nhau, không thể khác đi được. Cho nên phải sống có đạo lí, phép tắc, trật tự kỉ cương theo những điều hay, lẽ phải ở trên đời này mà “Hịt Bản, Khoong Mường” (Luật Bản, Lệ Mường) của người Thái đã chỉ rõ.

Chẳng hạn “Đạo lí về lẽ sống” sách từ cổ xưa đã dạy:

ăn cơm phải nuốt, phải nhai/ Nằm đêm phải nghĩ, phải suy/ Nghĩ phía trước, suy lại sau/ Dơ ba lần mới chém/ Nghĩ ba lần mới nói/ Có cha (mẹ) mới có con/ Có khung mới có cửi/ Không có cha (mẹ) không có con/ Không có khung, không có cửi/ Công cha/ Cao hơn núi nhìn không thấu/ Nghĩa mẹ/ Nhiều hơn nước mỏ tuôn trào…
Việc không hiểu/ Hỏi xin cụ già/ Con thay cha/ Măng thế cây/ Xây Bản Mường bền vững.
Hoặc “Đạo lí về mối quan hệ chung” trong cộng đồng chỉ rõ:

Anh em ta/ Đầu Mường gối, cuối Mường kề/ Gà vịt liền sân/ Lợn ăn chung máng/ Trâu bò chung bãi/ Voi ngựa chung phiêng/ Tắm nước chung bến/ Nhặt rêu chung thác/ Đánh cá chung bè/ Thả lưới chung nơi/ Làm nương chung chõ/ Làm ruộng chung đồng/

Anh em ta/ Thương yêu nhau mãi mãi/ Như đao chém dòng nước không đứt/ Đến chín chợ mười mường/ Chẳng mờ phai!…

Những vốn văn hoá truyền thống quí báu ấy rất cần được sưu tầm, biên soạn, lưu trữ vừa để bảo tồn cho hôm nay mà còn cho các thế hệ mai sau. Bởi bản sắc văn hoá là máu thịt của một dân tộc. Mất bản sắc văn hoá là mất tất cả.

Vi Trọng Liên

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,462,304


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs