Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 26/12/2005
Kết quả thực hiện công tác định canh định cư ở Việt Nam và một số giải pháp trong thời gian tới


Khu dân cư mới và khu vực sản xuất của đồng bảo "Hạ Sơn" xã Na Khê, huyện Yên Minh

Để giải quyết vấn đề du canh du cư, Chính phủ đã thực hiện hàng loạt các dự án định canh định cư nhằm giúp đồng bào ổn định cuộc sống, phát triển sản xuất, tăng thu nhập, bảo đảm nhu cầu trước mắt, nhất là lương thực và từng bước cải thiện các điều kiện dịch vụ như: y tế chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, thông tin, v.v.

Trong giai đoạn từ 1968 đến 1990 Nhà nước đã đầu tư 14.644 triệu đồng cho việc tiến hành công tác định canh định cư. Theo đánh giá của Cục Định canh định cư - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công tác định canh định cư hiện chỉ được tiến hành ở những vùng có thuận lợi về giao thông còn ở những nơi có địa hình, vùng núi cao chưa được chú ý, nên dẫn đến sự không đồng đều giữa các vùng, nhóm dân tộc. Tình trạng tranh chấp đất đai xảy ra mạnh ở những năm đầu thập kỷ 90 do thay đổi cơ chế quản lí đã làm cho một bộ phận dân cư không còn đất sản xuất dẫn tới du canh du cư và di dân tự do.

Giai đoạn 1996-2002 trên địa bàn 40 tỉnh đã triển khai được 200 dự án, định cư cho 9 vạn hộ với tổng đầu tư là 480 tỷ đồng từ nguồn ngân sách Trung ương và cả ngân sách địa phương. Kết quả là đã khai hoang 7.760 ha đất sản xuất cho nhân dân, làm mới 39 công trình đường giao thông nông thôn dài 752 km, 100 cầu cống; 40 công trình kênh mương với 310,8 km đào đắp, 106 trạm bơm và đập thuỷ lợi nhỏ; 20 hệ thống cấp nước và 823 giếng nước; xây dựng 104 trường học và trạm xá, 8 trạm điện hạ thế. Với sự đầu tư này đã giúp cho 50 ngàn hộ dân bước đầu ổn định được cuộc sống, tiếp cận được các dịch vụ xã hội.

Như vậy, kể từ năm 1991 đến nay đã có khoảng 557 ngàn hộ với 3.142 khẩu là đối tượng cần vận động định canh định cư đã từng bước cơ bản ổn định sản xuất và đời sống.

Sau gần 40 năm thực hiện mặc dù còn nhiều khó khăn, song công tác định canh định cư đã đạt được những thành tựu đáng kể, cơ sở hạ tầng sản xuất và dịch vụ như giao thông, thuỷ lợi, nước sinh hoạt, nhà ở, cơ sở y tế, trường học… từ không đến có và dần được cải thiện; nhận thức và trình độ người dân đã tăng lên đáng kể do tiếp cận phương thức sản xuất mới, có điều kiện giao lưu với văn hoá của người Kinh và các dân tộc anh em, v.v. giải quyết được một phần tình trạng bức xúc về du cư, du canh trên địa bàn miền núi, góp phần thực hiện chủ trương của Chính phủ về công tác dân tộc, ổn định tình hình kinh tế - xã hội, củng cố đoàn kết dân tộc, giữ vững an ninh quốc phòng cho khu vực.

Bên cạnh những thành tựu nổi bật đó còn một số tồn tại chủ yếu như:

Công tác định canh định cư được thực hiện hơn 40 năm, tức là một khoảng thời gian khá dài nhưng kết quả chưa được như mong muốn, chưa thực vững chắc. Nhiều vùng đã có sự thay đổi nhất định nhưng tỷ lệ đói nghèo còn cao và được xem là vùng “lõi” nghèo, đời sống kinh tế - xã hội trên nhiều mặt của người dân còn thấp kém so với mặt bằng phát triển chung của cả nước. Hiện nay diện vận động và hỗ trợ định canh định cư còn lớn: 267.000 hộ với 1.541.000 khẩu đã định cư nhưng còn du canh; 15.000 hộ với 84.000 khẩu còn du canh du cư; 20.000 hộ di cư tự do cư trú trong khu vực các rừng đặc dụng, rừng phòng hộ cần phải bố trí sắp xếp lại; khoảng 270.000 hộ cần được tiếp tục hỗ trợ về đất sản xuất, nhà ở, nước sinh hoạt, v.v. Trong hầu hết các xã được đánh giá là cơ bản hoàn thành định canh định cư vẫn còn khoảng 15-20% đối tượng có nguy cơ tái du canh du cư do thiếu đất, nước sản xuất và nước sinh hoạt.

Về khách quan là do ý thức, tâm lý cộng đồng dân cư, thói quen đã ăn sâu vào tiềm thức của đồng bào, để thay đổi được không thể ngày một ngày hai. Mặt khác, đối tượng vận động định canh định cư lớn, phân bố trên địa bàn rộng, hiểm trở khó khăn đòi hỏi sự đầu tư lớn cả về vật lực, nhân lực…

Về chủ quan, trong quá trình triển khai định canh định cư chưa tìm hiểu kĩ phong tục, tập quán của người dân. Sự tham gia của người dân vào trong quá trình xây dựng lại cuộc sống mới còn hạn chế do những rào cản ngôn ngữ, văn hoá nên phần nhiều họ thiếu tính chủ động và thích ứng. Phần lớn các dự án định canh định cư được xây dựng trên cơ sở những khuôn mẫu sẵn, tập trung chủ yếu vào các hạng mục đầu cơ sở hạ tầng, thuỷ lợi, khai hoang đồng ruộng, v.v. và do cấp huyện lập do đó việc khảo sát, đánh giá nhu cầu ở cấp thôn bản, xã sơ sài và thiếu tính chuyên nghiệp.

Định cư chưa gắn liền với định canh, trong thực hiện bộc lộ rõ nhược điểm về qui hoạch sử dụng đất chưa phù hợp với tập quán canh tác và nguyện vọng của cộng đồng tại chỗ. Do vậy có nguy cơ đất canh tác bị bán, đổi và nhất là qui hoạch của các nông lâm trường phá vỡ quĩ đất canh tác của các cộng đồng. Một số nơi cơ sở hạ tầng đã được đầu tư nhưng đã qua sử dụng lâu dài nên xuống cấp, nhất là các công trình thuỷ lợi; một số nơi xây dựng không đồng bộ nên phát huy hiệu quả kém. Công tác khuyến nông, khuyến lâm, hỗ trợ và tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm cho nhân dân không sát hợp và chưa tốt nên không đạt được kết quả mong muốn.
Biểu hiện của sự bất cập nữa là kinh phí đầu tư cho công tác định canh định cư hạn hẹp và dàn trải, mang tính hỗ trợ là chủ yếu trong khi thực tế lại cần sự đầu tư đủ mạnh. Trong 13 năm (từ 1990-2002) bình quân đầu tư cho một hộ đồng bào diện định canh định cư được khoảng 4 triệu đồng/hộ, bao gồm cả đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển sản xuất. Việc huy động và lồng ghép các chương trình khác như 327, 661 còn nhiều vướng mắc và khó thực hiện do khác nhau về mục tiêu, tính chất hoạt động và cơ quan quản lí khác nhau.
Quá trình quản lí chỉ đạo còn chưa sâu sát, hệ thống theo dõi giám sát, số liệu thống kê phân tích thiếu cơ sở, thiếu tính khoa học, ngay cả con số báo cáo về tình trạng du canh du cư và định canh định cư ở các địa phương hiện cũng chưa bảo đảm sát thực. Đó cũng là những nguyên nhân làm cho công tác này thực hiện chưa tốt.

Để giải quyết cơ bản tình trạng du canh du cư và di cư tự do trên phạm vi toàn quốc vào năm 2010, tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc thiểu số ổn định đời sống, từng bước phát triển kinh tế - xã hội, trong thời gian tới công tác định canh định cư phải dựa trên việc xác định đúng đối tượng ưu tiên để có những giải pháp và bước đi phù hợp với từng vùng, từng nhóm dân tộc cụ thể trên cơ sở nghiên cứu kỹ phong tục tập quán, đặc điểm văn hoá và xu hướng phát triển của các nhóm dân tộc này.

Cần tiến hành dứt điểm, tập trung vào những vùng trọng điểm như vùng trọng yếu về tình trạng du canh du cư, vùng dễ bị thiên tai, vùng biên giới, vùng nhạy cảm về trật tự an toàn xã hội.

Định canh định cư phải được tiến hành một cách đồng bộ, trước tiên là tạo lập và củng cố cơ sở hạ tầng sản xuất, dịch vụ hỗ trợ sản xuất, trước mắt phát triển canh tác lúa nước và khai thác có hiệu quả hệ thống canh tác truyền thống, giải quyết vấn đề an toàn lương thực sau đó là các hoạt động làm tăng thu nhập trên cơ sở chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi thích hợp.

Công tác định canh định cư phải được tiến hành một cách toàn diện trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội nhằm tạo ra sự thay đổi tích cực trong đời sống mọi mặt của người dân, làm tiền đề phát triển cho nhau; tăng cường sự tham gia cụ thể của người dân và các cộng đồng dân cư trong các hoạt động từ điều tra, khảo sát nhu cầu, lập kế hoạch cho đến tổ chức thực hiện. 

Định canh định cư phải gắn với bảo vệ rừng, đất, nước và các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống; gắn chặt lợi ích của người dân với vấn đề bảo vệ tài nguyên. Kể cả phương án cân đối lương thực ở mức phù hợp để hỗ trợ người dân bảo vệ rừng, có thể sống dựa vào rừng thay vì phải mở rộng các điều kiện sản xuất lương thực khác.

Công tác định canh định cư phải gắn với quá trình hoàn thiện cơ chế, chính sách và bộ máy quản lí từ Trung ương đến địa phương; cải tiến chế độ kiểm tra, giám sát, thông tin số liệu, báo cáo kịp thời và sát thực với tình hình thực tiễn; tăng cường chế độ đãi ngộ chính sách cho người làm công tác định canh định cư, xoá đói giảm nghèo đi cùng với yêu cầu cao về chuyên môn, nghiệp vụ.

Để công tác định canh định cư tiến hành thuận lợi, trước hết cần rà soát lại các đối tượng và nhu cầu cần định canh định cư, điều chỉnh qui hoạch sắp xếp lại dân cư gắn với qui hoạch đất đai, phát triển sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Trước mắt bảo đảm giao đủ đất sản xuất, rừng cho gia đình và cộng đồng, cải thiện tình trạng nhà ở và cấp đủ nước sinh hoạt. Hỗ trợ đầu tư tăng cường sản xuất, tập trung vào thâm canh và mở rộng diện tích, gieo trồng cây lương thực, cây ngắn ngày để bảo đảm lương thực, kể cả việc sử dụng giống mới; cải thiện tình trạng chăn nuôi đặc biệt gắn với công tác khuyến nông và thú y. Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu như: đường giao thông, trường học, trạm xá, nhà sinh hoạt cộng đồng, v.v. Thực hiện chính sách hỗ trợ mang tính đặc thù cho các hộ nghèo như trợ cấp đời sống, trợ cấp sản xuất cho vay không lãi. Tiếp tục triển khai công tác xoá mù chữ, tập huấn nâng cao năng lực cộng đồng, củng cố hệ thống thiết chế thôn, bản. Mặt khác, cần có những giải pháp thích hợp như:

Về chính sách, cần ban hành và thực hiện các chính sách đặc thù cho nhóm đối tượng cần định canh định cư như chính sách hỗ trợ đời sống, vay vốn tín dụng, ưu đãi đào tạo cán bộ dân tộc tại chỗ, giáo dục phát triển nguồn nhân lực. Đặc biệt là cải tiến cơ chế quản lí, phân bố, sử dụng, thanh quyết toán các hạng mục đầu tư, áp dụng chế độ quản lí đơn giản, sát thực có sự tham gia của cộng đồng, khuyến khích sử dụng hình thức quản lí quĩ phát triển gắn với từng bước nâng cao khả năng tham gia quản lí của người dân. Bên cạnh đó tiếp tục thực hiện các chương trình, chính sách như 135, Quyết định 134, Quyết định 190, v.v.

Đẩy mạnh thực hiện chính sách giao đất giao rừng cho hộ gia đình và cộng đồng đảm bảo cho người dân cơ bản sống từ trồng, bảo vệ rừng và tận thu lâm sản, đồng thời có sự hỗ trợ của Nhà nước về lương thực và các vật tư sản xuất khác; Về huy động và phối hợp nguồn lực, việc phối hợp lồng ghép chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở rà soát đánh giá lại nhu cầu từng địa bàn với từng hoạt động cụ thể để tránh trùng lắp. Điều cơ bản nhất cần có một cơ quan chỉ đạo, điều hành thống nhất các chương trình và chính sách. Sự phân tán về tổ chức cũng là sự phân tán về nguồn lực, làm giảm hiệu quả đầu tư; Về công tác chỉ đạo, giám sát, đánh giá, phân công trách nhiệm chủ trì và phối hợp kiểm tra, giám sát ở các cấp, các ngành. Làm rõ qui trình và nội dung kiểm tra, hình thức kiểm tra, giám sát. Thực hiện tốt qui chế dân chủ để tăng cường sự tham gia của nhân dân. Tiến hành công khai công tác quản lí và đầu tư ở các cấp và trên các phương tiện thông tin đại chúng. Cần xây dựng lại hệ thống biểu mẫu thống kê, điều tra để làm cơ sở thông tin báo cáo ở các cấp phục vụ cho công tác quản lí và kiểm tra, giám sát. Về vốn, cần huy động đủ vốn cho việc thực hiện các dự án định canh định cư và phải được đảm bảo bằng ngân sách Trung ương. Trong tính toán kết hợp huy động một phần khả năng có thể tham gia đóng góp của người dân (mức độ không nhiều), thực hiện tốt phương châm “Nhà nước đầu tư, cộng đồng hỗ trợ, nhân dân cùng làm”.

Công tác định canh định cư được hình thành và thực hiện gần 40 năm qua ở miền núi nước ta đã đem lại những thay đổi nhiều mặt trong đời sống của người dân, thể hiện tính ưu việt và sự quan tâm của Đảng, Chính phủ đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Đó cũng là một quá trình phản ánh sự phát triển của nhận thức và dần đổi mới công tác quản lí trong thực hiện công tác định canh định cư, phù hợp dần với xu thế phát triển và công cuộc đổi mới của đất nước. Xoá đói giảm nghèo là mục tiêu lớn, công tác định canh định cư không nằm ngoài mục tiêu đem lại cuộc sống tốt hơn cho đồng bào dân tộc.

Nguyễn Lâm Thành
Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách Dân tộc

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,462,777


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs