Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 26/12/2005
Rừng Tây Nguyên và các vấn đề cần quan tâm

Khu vực Tây Nguyên bao gồm các tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông và Lâm Đồng, đây là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên rừng. Với diện tích và đất rừng lớn nhất toàn quốc, là nơi sinh thuỷ của 22 dòng sông lớn, là địa bàn cực kỳ quan trọng về môi trường sinh thái không chỉ cho khu vực mà còn đối với các tỉnh duyên hải miền Trung, miền Đông Nam Bộ - Thành phố Hồ Chí Minh và vùng hạ lưu sông Mê Kông. Địa bàn Tây Nguyên cũng là nơi hội tụ chung sống của đồng bào các dân tộc thiểu số gắn bó với văn hoá rừng và văn hoá cồng chiêng độc đáo được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại.

Tây Nguyên có diện tích tự nhiên là 5.612 nghìn ha, hiện còn 3.140 nghìn ha rừng các loại, trữ lượng 238,9 triệu m3, chiếm tới 31,9% diện tích và 36,3% trữ lượng rừng toàn quốc (trong đó rừng giàu chiếm 41,2%; rừng trung bình chiếm 51,2% so với tổng trữ lượng rừng cùng loại của cả nước).

Thời gian qua, nhất là giai đoạn 2000-2005 bên cạnh chính sách chung của Nhà nước, các tỉnh Tây Nguyên đã bổ sung nhiều cơ chế, chính sách tương đối phù hợp và đã tạo được bước chuyển biến tích cực trong công tác tổ chức quản lí, bảo vệ và phát triển vốn rừng, như: Đã chú ý xây dựng phương án phòng cháy chữa cháy rừng, trang bị những phương tiện kỹ thuật cần thiết để đảm bảo phục vụ công tác này, đào tạo, bổ sung lực lượng nhân viên phòng cháy chữa cháy có chuyên môn kỹ thuật; bước đầu ngăn chặn có hiệu quả nạn chặt phá rừng, đốt rừng để làm nương rẫy hoặc khai thác gỗ, củi trái phép. Chú trọng quan tâm hơn tới quyền lợi của người dân sinh sống trong khu vực có rừng, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số. Việc phòng trừ sâu bệnh hại rừng cũng đã được các cấp, các ngành và các cơ quan quản lí rừng coi trọng.

Về phát triển rừng, thực hiện chương trình trồng mới, theo Quyết định số 661/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nhận thức của các địa phương cũng đã có sự chuyển biến tích cực, việc triển khai công tác trồng rừng đã có kết quả. Tuy nhiên, công tác quản lí bảo vệ và phát triển rừng ở Tây Nguyên vẫn còn nhiều thiếu sót tồn tại cần phải được khắc phục. Đó là, tình trạng xâm hại tài nguyên rừng vẫn tiếp tục xảy ra, thậm chí có biểu hiện ngày càng phức tạp. Nạn phá rừng để làm nương rẫy, ăn cắp lâm sản tuy có giảm nhưng vẫn còn ở mức nghiêm trọng.

Nguyên nhân là do trình độ dân trí còn quá thấp, nhận thức của người dân về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi trong việc quản lí bảo vệ rừng chưa cao. Mặt khác, do đời sống của một bộ phận dân cư, đặc biệt là đồng bào dân tộc, đồng bào kinh tế mới gặp nhiều khó khăn, sản xuất chưa ổn định, sống dựa vào rừng, chặt phá rừng làm rẫy, thậm chí khai thác, vận chuyển, mua bán gỗ trái phép.

Về mặt quản lí Nhà nước, các chính sách về lâm nghiệp của Nhà nước nói chung và của địa phương nói riêng chưa đồng bộ, việc giao đất giao rừng tiến hành quá chậm. Các địa phương, tuy có thực hiện đổi mới một bước về cơ chế chính sách và tổ chức lại các lâm trường, nhưng về cơ bản chưa động viên được sức mạnh của nhân dân, chưa gắn quyền lợi và trách nhiệm của người dân và các thành phần kinh tế trong công tác tổ chức quản lí, bảo vệ và phát triển vốn rừng. Trên thực tế người dân chỉ là người làm thuê trong từng thời gian và từng việc cụ thể, vì vậy họ chưa có trách nhiệm trong quản lí, bảo vệ. Người nhận đất để trồng rừng hoặc nhận quản lí bảo vệ rừng trồng chủ yếu là lo khâu tận thu lâm sản và khai thác phần đất nông nghiệp theo tỷ lệ cho phép để trồng các cây ngắn ngày sớm có thu nhập, mà chưa thực sự quan tâm đến việc trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng theo yêu cầu. Tình trạng đồng bào di cư tự do, đồng bào kinh tế mới chặt phá rừng để trồng cây lương thực, cây công nghiệp và tình hình sang nhượng mua bán đất rừng kiếm lời vẫn còn diễn biến phức tạp, chưa chấm dứt. Nhu cầu sử dụng gỗ và lâm sản của nhân dân để xây dựng nhà ở, đồ gia dụng, làm hàng xuất khẩu, củi than đốt… ngày càng nhiều, cung chưa đáp ứng cầu. Giá gỗ trên thị trường ngày một cao, nhất là gỗ quý hiếm, trong khi đó sản lượng gỗ của địa phương giảm mạnh, nên sức ép của xã hội đối với tài nguyên rừng là rất lớn. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lí vi phạm pháp luật trong quá trình tổ chức bảo vệ rừng, trồng rừng, như tổ chức phòng chống cháy, tổ chức khai thác, ngăn chặn bọn “lâm tặc” phá rừng, nạn đốt rừng làm nương rẫy, sang nhượng mua bán đất rừng để trồng cây công nghiệp, khai thác trái phép lâm sản, hoặc các khâu giao khoán bảo vệ, chăm sóc, giao khoán đất trồng rừng của các cơ quan chức năng còn quá nhiều sơ hở, lỏng lẻo, chưa được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh những trường hợp vi phạm theo đúng pháp luật.

Từ những nguyên nhân yếu kém trên đã dẫn đến thực trạng là hàng năm Ngân sách Nhà nước mất một khoản rất lớn từ lượng gỗ bị mất do khai thác gỗ trái phép, do phá rừng đốt nương làm rẫy và do để cháy rừng. Mỗi năm Tây Nguyên có tới hàng chục nghìn hộ từ mọi miền đất nước di cư tự do đến làm ăn sinh sống, vì thế mỗi năm lại mất đi tới hàng trăm tỷ đồng từ nguồn tài nguyên rừng do bị chặt phá, khai thác trái phép để lấy đất sản xuất.

Chỉ tính riêng những năm thuộc thập kỷ 90 của thế kỷ XX rừng Tây Nguyên bị giảm diện tích tới gần 30.000 ha, đã dẫn tới nhiều vùng đất rộng lớn trước đây vốn rất màu mỡ nay bị rửa trôi, xói mòn trở thành đất bạc màu, chai rắn lại, không còn độ phì nhiêu làm cho cây cối kém phát triển, năng suất và sản lượng nhiều loại cây trồng như chè, cà phê, dâu tằm và kể cả các loại cây rừng có biểu hiện chững lại. Do vậy, Nhà nước, các tổ chức và cả nhân dân trong những năm gần đây phải bỏ ra một khoản tiền khá lớn để phục hồi, tái tạo lại độ màu mỡ của đất. Khi diện tích rừng bị thu hẹp thì khả năng giữ nước của chúng cũng bị suy giảm nghiêm trọng, gây nên tình trạng hạn hán kéo dài ở nhiều địa phương trong mùa khô như Đắk Lắk, Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum, các tỉnh Nam Trung Bộ, đặc biệt ở những nơi này mấy năm gần đây nước sinh hoạt cho người và gia súc cũng trở nên khan hiếm. Đi đôi với tài nguyên rừng bị thu hẹp thì số lượng các loài động vật rừng cũng bị giảm mạnh, đặc biệt là thú quý hiếm như Tê giác, Voi, Hổ, Báo, Trăn hầu như còn rất ít; các loại chim Công, chim Trĩ, gà Tiền mặt đỏ… từ lâu ít thấy xuất hiện. Sự giảm sút và thiếu vắng nhiều loài động vật rừng đã làm cho môi trường sinh thái của rừng Tây Nguyên khó trở lại cân bằng, đang dần đơn điệu và nghèo nàn.

Trước tình trạng đó, Nhà nước cần có những giải pháp cấp thiết phù hợp để bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng Tây Nguyên mà trước tiên cần tập trung vào các vấn đề sau:

1. Coi việc phát triển lâm nghiệp ở Tây Nguyên là nhiệm vụ trước mắt và lâu dài để tăng độ che phủ, bảo vệ môi trường và nguồn nước không chỉ của khu vực mà là còn của cả nước. Sớm rà soát lại quy hoạch của 3 loại rừng: rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất, chỗ nào chưa hợp lý cần điều chỉnh lại về ranh giới, diện tích để trước hết tránh tình trạng lấn chiếm gây trở ngại cho công tác quản lí, sử dụng rừng. Việc xoá đói giảm nghèo cho nông dân, đặc biệt là nông dân vùng đồng bào dân tộc cần được khẩn trương thực hiện bằng các chính sách hỗ trợ thông qua ngân hàng chính sách xã hội, cho vay vốn không lãi hoặc lãi suất rất thấp. Tăng cường công tác hướng dẫn chuyển giao khoa học kỹ thuật cây trồng, vật nuôi mang lại hiệu quả kinh tế để họ có thể rời bỏ những hoạt động, huỷ hoại đất, huỷ hoại môi trường, tham gia bảo vệ và phát triển rừng.

2. Sớm quy hoạch các cụm dân cư miền núi, chủ động bố trí dân di cư từ các nơi khác tới làm ăn, đồng thời ổn định sản xuất sinh hoạt cho đồng bào dân tộc, chấm dứt đốt rừng, phát rừng làm rẫy, du canh du cư. Bảo vệ đa dạng tài nguyên sinh học cần được đặt ra với quan điểm phát triển bền vững. Nghĩa là bảo vệ cho được những loài thực vật, động vật đã và đang tồn tại ở địa phương, khôi phục số lượng của một số loài đã bị giảm trong thời gian qua.

Không được lạm dụng việc khai thác tài nguyên rừng phục vụ cho nhu cầu dân sinh, cần chú trọng việc đảm bảo chức năng phòng hộ của rừng. Việc khai thác sử dụng tài nguyên rừng hợp lý ở Tây Nguyên có tác động ảnh hưởng quan trọng đến việc gìn giữ, bảo vệ sự bền vững môi trường sinh thái của rừng.

3. Thực hiện chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng theo Quyết định 661/CP của Chính phủ: Nhà nước và các tổ chức tín dụng nên ưu tiên các nguồn vốn dài hạn, lãi suất thấp để khuyến khích đầu tư cho việc trồng mới rừng mặt khác có chính sách hỗ trợ vốn để phát triển cung ứng vật tư, dịch vụ như giống, phân bón, vận chuyển, chuyển giao công nghệ, vv. Thực hiện các hình thức giao khoán, cho thuê đất đối với mọi thành phần kinh tế tham gia.

Ưu tiên khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên. Với hình thức này, chúng ta có thể tái tạo lại các khu vực rừng gỗ quý hiếm đã bị tàn phá như: Rừng dầu, cẩm lai, giáng hương… mà chi phí lại rẻ hơn trồng mới rất nhiều (bằng khoảng 1/3 giá trồng mới).

4. Công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát công tác quản lí bảo vệ và phát triển rừng trong thời gian tới cần rà soát lại toàn bộ quỹ đất đai, quỹ rừng, xem nơi nào đã thực hiện giao khoán có chủ rừng quản lí, nơi nào chưa giao khoán rừng để cấp có thẩm quyền sớm thực hiện, nhất thiết không để rừng và đất rừng vô chủ, bị lợi dụng lấn chiếm hoặc khai thác bừa bãi. Kiểm tra toàn bộ công tác lâm sinh một cách chặt chẽ từ khâu sản xuất giống, kỹ thuật ươm trồng đến chăm sóc, sử dụng nguồn vốn, đặc biệt đối với những đơn vị sử dụng ngân sách, tránh tình trạng làm ẩu, nghiệm thu ẩu để lấy tiền Nhà nước. Giám sát nghiêm ngặt việc đóng búa rừng, khai thác rừng phải được thực hiện đúng quy trình quy phạm, vì đây là công việc trong rừng, thậm chí rừng sâu, hoạt động khá độc lập khó kiểm soát dễ phát sinh sai phạm. Mặt khác cần giám sát chặt chẽ hơn nữa hoạt động của các trạm kiểm lâm, trạm phúc kiểm. Bố trí những cán bộ có phẩm chất, có bản lĩnh, trách nhiệm cao ở các vị trí này để chặn đứng những hoạt động phạm pháp của bọn lâm tặc.

5. Tỷ trọng kinh tế lâm nghiệp Tây Nguyên chiếm rất nhỏ trong tổng GDP, đây là nghịch lý khi lâu nay cả Trung ương và địa phương đều xác định tiềm năng về kinh tế lâm nghiệp rất lớn do vậy cần thực hiện giao đất, giao rừng và ổn định lâu dài cho các thành phần kinh tế tự bỏ vốn đầu tư theo hướng lâm nghiệp xã hội hoá. Xác định rõ quyền lợi và nghĩa vụ giữa Nhà nước với tổ chức, cá nhân nhận khoán. Nhà nước cần có chính sách hợp lý hơn cho người nhận khoán quản lí bảo vệ rừng được hưởng lợi theo một tỷ lệ hợp lý từ giá trị tăng trưởng hàng năm của rừng, thay cho định suất 50.000 đồng/ha/năm như hiện nay. Với mức khoán như hiện nay chưa tạo sự hấp dẫn và tạo trách nhiệm cao cho người nhận khoán, mặt khác chưa bù đắp thoả đáng công sức quản lí bảo vệ rừng của họ.

Mặt khác, để công tác bảo vệ phát triển rừng của cả nước nói chung và của Tây Nguyên nói riêng được thực hiện có hiệu quả, Nhà nước cần sớm có chính sách đồng bộ về xã hội hoá nghề rừng bởi trước đây Chính phủ có Nghị định 01/CP ngày 04/01/1995 về thực hiện giao khoán đất rừng và rừng ổn định lâu dài; Nghị định 02/CP (nay được thể hiện lại Nghị định 163/1999/NĐ-CP về giao đất rừng cho các hộ gia đình và cá nhân). Nhưng các Nghị định trên đều chưa cụ thể, chưa nêu rõ chế độ hưởng lợi và nghĩa vụ hoạt động nghề rừng trên đất thuê, đất khoán, đất được giao cho người nông dân và các thành phần kinh tế khác. Do đó, chưa thực sự khuyến khích các hộ nông dân và các thành phần kinh tế hăng hái đăng ký nhận giao đất, thuê đất sử dụng lâu dài. Cùng với việc xã hội hoá nghề rừng, nguồn nước phải được coi là nguyên liệu của các nhà máy thuỷ điện do đó phải được coi là “đầu vào” để xác định giá thành. Bởi trên thực tế rừng Tây Nguyên ở nhiều nơi có vị trí quan trọng là rừng đầu nguồn, nơi sinh thuỷ phục vụ cho hầu hết các nhà máy thuỷ điện phía Nam, chiếm tỷ trọng lớn năng lượng điện quốc gia nhưng không được bù đắp cho công tác bảo vệ và phát triển rừng đầu nguồn một cách thoả đáng, chứ chưa nói đến việc tham gia ngân sách địa phương và nâng cao đời sống nhân dân trong vùng.

Thuế tài nguyên nước hiện nay mới thể hiện được một phần bù đắp nhỏ, chưa phải là yếu tố chính kết cấu giá thành thuỷ điện. Vì vậy, đề nghị Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan xem xét tính toán lại, tạo cho Tây Nguyên và các vùng, miền khác tương tự, được hưởng lợi kinh tế từ lĩnh vực này. Đây cũng là yếu tố hết sức thiết thực khuyến khích các địa phương chăm lo quản lí bảo vệ và phát triển rừng, đặc biệt là rừng phòng hộ đầu nguồn.

Thạc sĩ: Nguyễn Huy Hoàng

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,449,284


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs