Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 26/12/2005
Phát huy sức mạnh hệ thống chính trị trong thực hiện công tác dân tộc và chăm lo cho đồng bào dân tộc thiểu số
Trà Vinh là một trong những tỉnh có đông đồng bào Khmer sinh sống, chiếm tỷ lệ gần 30% dân số toàn tỉnh. Đặc tính của người dân tộc Khmer là cần cù lao động, thật thà, giàu tình thương, có tinh thần tương trợ, có truyền thống đoàn kết gắn bó lâu đời với người Kinh và người Hoa đã được hình thành trong lịch sử, cùng nhau chung sức chung lòng trong kháng chiến chống ngoại xâm và trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Để thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng, Tỉnh uỷ Trà Vinh luôn quan tâm xây dựng cơ quan làm công tác dân tộc và phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị trong thực hiện công tác dân tộc. Năm 1992 sau khi tái lập tỉnh, đã tăng cường nhiều cán bộ có năng lực và uy tín sang làm công tác dân tộc, từ năm 1996 đến nay đã phân công 1 đồng chí Tỉnh uỷ viên làm Trưởng Ban Dân tộc, tổ chức bộ máy Ban Dân tộc tỉnh được kiện toàn về số lượng và chất lượng; hiện nay tỉnh đang xúc tiến thành lập các Phòng Dân tộc - Tôn giáo của các huyện và thị xã, nhằm kịp thời tham mưu giúp cấp uỷ, Uỷ ban nhân dân các cấp lãnh đạo thực hiện tốt các chủ trương, chính sách về dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước trong tình hình mới. Bên cạnh việc xây dựng tổ chức bộ máy làm công tác dân tộc, Tỉnh uỷ đặc biệt quan tâm xây dựng các tổ chức chính trị xã hội trong vùng có đông đồng bào dân tộc, trước hết là xây dựng đội ngũ cán bộ là người dân tộc, tăng cường đội ngũ cán bộ, đảng viên là người dân tộc trong hệ thống chính trị. Thể hiện cụ thể như khi mới tách tỉnh đảng viên là dân tộc Khmer chỉ có 667 đồng chí, chiếm 6,56% đảng viên toàn tỉnh, đến nay có 2.741 đồng chí, chiếm tỷ lệ trên 12,12% trong tổng số 22.607 đảng viên toàn tỉnh. Đội ngũ cán bộ Khmer được quan tâm đào tạo, đề bạt và bố trí ở các ngành, các cấp ngày càng nhiều hơn trước: Có 6 đồng chí trong Tỉnh uỷ (2 Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ - trong đó có 1 Thiếu tướng, Giám đốc Công an tỉnh); Hội đồng nhân dân tỉnh khoá VII có 13 đại biểu là người Khmer, chiếm 30,2%;17 đồng chí trong Huyện uỷ (có 1 Bí thư, 7 Uỷ viên Thường vụ), 218 đồng chí trong Đảng uỷ cấp xã (có 12 Uỷ viên Thường vụ và 20 Bí thư, 38 Phó Bí thư). Toàn tỉnh có 2.296 cán bộ, công chức là người Khmer, chiếm 18% tổng số cán bộ, công chức của tỉnh, có 505 đại biểu Hội đồng nhân dân 3 cấp (trong đó có 1 Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh, 1 Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, 1 Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện và 3 Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện) và 3 đại biểu Quốc hội khoá XI; 15 Trưởng, Phó ngành tỉnh; 70 Trưởng, Phó phòng cấp tỉnh và huyện; 308 Trưởng và Phó ngành xã; đặc biệt, kết quả qua Đại hội Đảng bộ cấp cơ sở nhiệm kỳ 2005 - 2010 đã có 239 cán bộ Khmer trúng cử vào Ban Chấp hành cấp uỷ khoá mới, chiếm tỷ lệ 15,68%..

Sau 13 năm tái lập tỉnh, thực hiện các chủ trương, chính sách của Trung ương Đảng, Chính phủ và các chỉ thị, nghị quyết của Tỉnh uỷ, đặc biệt là công tác củng cố tổ chức bộ máy làm công tác dân tộc và xây dựng và phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị trong thực hiện chính sách dân tộc, đã tạo ra sự chuyển biến nhiều mặt trong sản xuất và đời sống của đồng bào, góp phần đưa nền kinh tế của Trà Vinh liên tục phát triển. Riêng trong vùng có đông đồng bào Khmer đã đạt được những thành tựu rất quan trọng trên một số lĩnh vực sau:

Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội được xây dựng khá, bộ mặt nông thôn được đổi mới rõ nét. Phần lớn diện tích đất nông nghiệp trong vùng đồng bào Khmer trước đây bị nhiễm phèn, mặn, sản xuất độc canh 1 vụ lúa/năm, năng suất thấp, nay đã có hệ thống thuỷ lợi khá hoàn chỉnh, tạo điều kiện mở rộng diện tích đất thâm canh, tăng vụ, sản xuất từ 1 vụ lúa lên 2 vụ lúa - 1 vụ màu hoặc 1 vụ lúa - 2 vụ màu, hiệu quả trên một đơn vị diện tích ngày càng tăng. Hệ thống đường giao thông từ chỗ chỉ có 23 km đường láng nhựa khi mới tách tỉnh, nay đã hơn 500 km đường nhựa và hàng ngàn km đường giao thông nông thôn liên ấp được bê tông hoá, đảm bảo ô tô đến được trung tâm xã. Mạng lưới điện quốc gia được tập trung đầu tư phát triển, đến nay 100% xã, phường trong tỉnh có điện lưới quốc gia, hộ sử dụng điện chiếm 80,38% trên tổng số hộ. Để đảm bảo nước sạch phục vụ nhân dân, tỉnh đã thực hiện dự án đầu tư xây dựng hàng chục trạm cấp nước công suất từ 15-50 mét khối/giờ và công suất từ 5 - 10 mét khối/giờ, đồng thời huy động các nguồn lực đầu tư, kể cả đầu tư của người dân để xây dựng hệ thống cung cấp nước sạch. Đến hết năm 2004, tổng số hộ dân được sử dụng nước sạch của tỉnh trên 80% và vùng đồng bào Khmer được hưởng lợi tương đương với các vùng khác. Việc xây dựng trạm xá, trường học… trong vùng đồng bào Khmer có bước phát triển đáng kể.

Thực hiện chủ trương xoá đói giảm nghèo đạt kết quả tốt. Thực trạng hộ nghèo trong vùng dân tộc có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên dân do không đất, thiếu đất hoặc sang bán, cầm cố hết ruộng đất sản xuất. Để giải quyết điểm này, trước hết Tỉnh uỷ đã mạnh dạn có chủ trương hỗ trợ vỗn cho đồng bào chuộc lại đất đã sang bán hoặc cầm cố, đã hỗ trợ 872 triệu đồng cho 338 hộ Khmer nghèo chuộc lại 112 ha đất đã cầm cố để sản xuất, vận động được trên 1.000 hộ có nhiều đất cho 1.400 hộ quá ít đất, hoặc không có đất mượn trên 660 ha đất để sản xuất 1 vụ lúa hoặc 1 vụ màu trong năm. Từ năm 2001 đến nay, thực hiện chính sách hỗ trợ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn cho 7.509 hộ Khmer nghèo với số tiền trên 3.050 triệu đồng để giải quyết khó khăn trong cuộc sống và phát triển sản xuất. Đặc biệt chương trình 135, qua các năm thực hiện, đã đầu tư cho các xã đặc biệt khó khăn trên 144,2 tỷ đồng, Ngân hàng Nông nghiệp và Ngân hàng Chính sách xã hội của tỉnh cho gần 107.500 lượt hộ Khmer vay lãi suất ưu đãi với số vốn hơn 605 tỷ đồng; thực hiện chính sách trợ giá, trợ cước trên 14,7 tỷ đồng. Qua đó đã giúp đồng bào mở rộng sản xuất hàng hoá, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Hiện đàn bò của tỉnh tăng đáng kể, đã lên đến 113.500 con, trong đó có gần 40% là bò lai Sind. Kinh tế trang trại phát triển nhanh, toàn tỉnh có 2.621 trang trại, trong đó 136 trang trại của đồng bào Khmer.

Nhờ sự tập trung đầu tư của Đảng và Nhà nước, sự hỗ trợ của cộng đồng và sự nỗ lực khắc phục khó khăn vươn lên của bản thân đồng bào Khmer, nên cuộc sống của đồng bào không ngừng được cải thiện, khoảng cách chênh lệch giữa các vùng được rút ngắn dần, số hộ giàu, hộ khá tăng lên, hộ nghèo ngày càng giảm, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh từ 50% năm 1992, xuống còn 15,4% năm 2004, không còn hộ thiếu đói lúc giáp hạt. Vấn đề nhà ở cho các hộ cực nghèo trong vùng đồng bào Khmer cũng là nỗi bức xúc, lo toan của Đảng bộ tỉnh. Với sự hỗ trợ của Trung ương, các tỉnh, thành bạn… qua 3 năm tổ chức triển khai thực hiện, đến cuối tháng 6/2005 đã có trên 14.600 căn nhà tình thương được xây dựng, hoàn thành đưa vào sử dụng, mỗi căn trị giá từ 5 - 5,5 triệu đồng.

Sự nghiệp giáo dục trong vùng đồng bào Khmer được các cấp lãnh đạo Đảng và chính quyền quan tâm hàng đầu. Tỉnh đã tập trung xây dựng cơ sở vật chất trường lớp, tích cực đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, kể cả giáo viên dạy ngữ văn Khmer. Số lượng học sinh dân tộc Khmer ở các cấp học hàng năm đều tăng, năm học 1992 - 1993 toàn tỉnh chỉ có 30.864 học sinh Khmer, năm học 2004 - 2005 số học sinh ở các cấp học phổ thông lên đến 62.127 em, chiếm 28,79% số học sinh toàn tỉnh; đại học, cao đẳng 726 em (có 620 em đang học cao đẳng cộng đồng) và trung học chuyên nghiệp 139 em. Năm 2002 hơn 9 người Khmer mới có 1 người đi học, nay chưa đến 5 người Khmer đã có 1 người đi học. Toàn tỉnh có 6 trường phổ thông dân tộc nội trú, với tổng số học sinh chung trong năm học 2004 - 2005 là 1.185 em. Việc học xen kẽ ngữ văn Khmer ở các trường phổ thông được duy trì và phát triển, năm học 2004 - 2005 đã mở được 677 lớp, có 18.051 học sinh theo học. Các chùa Khmer trong tỉnh đã duy trì dạy bổ túc văn hoá Pali và Ngữ văn Khmer, hàng năm có gần 15.000 tăng sinh và nam, nữ thanh niên Khmer theo học.

Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” ở khu dân cư được đồng bào Khmer tích cực hưởng ứng. Toàn tỉnh hiện có 1 phường, 2 thị trấn, 2 xã và 441/775 ấp, khóm được xét công nhận là ấp, khóm, xã, phường, thị trấn văn hoá, trong đó có 312 ấp, khóm có đông đồng bào Khmer và có 29 chùa Khmer được công nhận cơ sở tôn giáo văn minh. Phong trào văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao trong đồng bào Khmer được quan tâm đầu tư, tạo điều kiện phát triển. Bên cạnh tiếp tục duy trì, phát triển Đoàn Nghệ thuật ánh Bình Minh phục vụ tốt nhu cầu văn nghệ dân tộc cho đồng bào Khmer trong và ngoài tỉnh, được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lao động” trong thời kỳ đổi mới; hàng năm, tỉnh đều có tổ chức hội diễn văn hoá, văn nghệ quần chúng Khmer, tổ chức thi đấu các môn thể thao truyền thống dân tộc, nhất là tổ chức đua ghe Ngo trong lễ hội Ok-Om-Bok. Các phương tiện thông tin đại chúng phát bằng tiếng Khmer đã không ngừng được đầu tư phát triển để phục vụ nhu cầu thông tin cho đồng bào. Chương trình phát thanh từ 30 phút lên 45 phút/buổi (ngày 2 buổi) và chương trình truyền hình từ 30 phút lên 45 phút/buổi. Báo Trà Vinh chữ Khmer phát hành từ 2 kỳ/4 trang/tháng lên 4 kỳ/8 trang/tháng. Ngoài ra, tỉnh còn phát hành Báo ảnh Khmer mỗi quý một số và Tập san Văn hoá phát hành trong các ngày lễ hội cổ truyền của đồng bào Khmer.

Những thành tựu đạt được trong thời gian qua đã góp phần tăng cường khối đoàn kết giữa đồng bào Kinh - Khmer - Hoa, đoàn kết lương - giáo, sự gắn bó giữa Đảng - chính quyền với nhân dân, đại bộ phận sư sãi và đồng bào Khmer trong tỉnh đều thể hiện niềm tin và sự lãnh đạo của Đảng, vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Tuy nhiên thực trạng tình hình cũng còn những mặt yếu kém, khó khăn như: Việc triển khai kế hoạch chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp trong vùng đồng bào Khmer nhiều nơi tiến hành chậm, trình độ ứng dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ chậm phát triển, đời sống của một bộ phận dân cư còn khó khăn. Sự nghiệp giáo dục - đào tạo có bước phát triển nhưng còn chậm, mặt bằng dân trí trong đồng bào Khmer còn thấp, mức hưởng thụ văn hoá cộng đồng còn hạn chế. Cán bộ là người Khmer ở các cấp, các ngành còn ít, một bộ phận kiến thức, năng lực chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới.

Để tiếp tục thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng trong thời kỳ mới, Tỉnh uỷ Trà Vinh tiếp tục chỉ đạo thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp lớn sau đây:

1. Tăng cường chất lượng hệ thống chính trị cơ sở vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer; quy hoạch và có kế hoạch đào tạo đội ngũ cán bộ Khmer, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lí, nhất là cán bộ khoa học kỹ thuật. Tiếp tục kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy các cơ quan làm công tác dân tộc cấp tỉnh và cấp huyện, thị xã nhằm làm tốt vai trò tham mưu giúp cấp uỷ và chính quyền địa phương lãnh đạo thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trong tình hình mới.

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, mặt trận, các đoàn thể, nắm chắc và giải quyết kịp thời những nguyện vọng chính đáng của đồng bào dân tộc. Gắn giáo dục chính trị với chăm lo quyền lợi và đời sống của nhân dân, đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, quan tâm hướng dẫn, giúp đỡ đồng bào ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Động viên, bồi dưỡng, hướng dẫn và phát huy vai trò của những người có uy tín trong đồng bào dân tộc, tôn giáo trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các địa bàn có đông đồng bào dân tộc.

2. Tập trung chỉ đạo thực hiện kế hoạch chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp và cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; thực hiện tốt mục tiêu xoá đói, giảm nghèo. Vận động nông dân vùng dân tộc tham gia các hình thức tổ chức hợp tác và hợp tác xã, tăng tỷ lệ vốn ngân sách Nhà nước và huy động nhiều nguồn vốn đầu tư mạnh cho phát triển hệ thống thuỷ lợi phục vụ kế hoạch chuyển đổi đất sản xuất nông nghiệp; tăng cường công tác khuyến nông, khuyến ngư hướng dẫn nông dân áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào trồng trọt, chăn nuôi gia súc, gia cầm và nuôi thuỷ sản; hình thành vùng tập trung sản xuất nông - thuỷ sản có giá trị cao và có thị trường tiêu thụ, tăng được sản lượng hàng hoá lớn có giá trị làm nguyên liệu cho phát triển công nghiệp, tiểu - thủ công nghiệp, đi đôi với phát triển thương mại - dịch vụ góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập và mức sống cho nhân dân trong vùng dân tộc Khmer.

Triển khai thực hiện tốt Quyết định 134 của Chính phủ, đồng thời tạo điều kiện cho các hộ nghèo chỉ biết làm nông nghiệp được chuộc lại đất cầm cố; tăng cường mở lớp tập huấn và đào tạo nghề cho lao động, phát triển ngành nghề mới ở nông thôn cần ít đất (chăn nuôi, trồng màu thực phẩm, trồng nấm rơm, nấm mèo); gắn với phát triển tiểu - thủ công nghiệp, dịch vụ và mua bán nhỏ để giải quyết việc làm ổn định cho lao động của hộ nghèo không đất; thực hiện lồng ghép Chương trình 135 của Chính phủ và các chương trình, dự án khác để đầu tư phát triển sản xuất hạ tầng kinh tế - xã hội trong vùng đồng bào dân tộc Khmer còn nhiều khó khăn; tiếp tục vận động hỗ trợ xây dựng nhà ở cho các hộ cực nghèo.

3. Tập trung nâng cao mặt bằng dân trí, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Đẩy mạnh đầu tư xây dựng trường, lớp học phổ thông kiên cố và bán kiên cố, song song với thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở và chống tái mù chữ, phát triển lớp học bổ túc văn hoá, nâng chất lượng dạy và học ở các trường phổ thông dân tộc nội trú, ưu tiên cho thanh niên ở độ tuổi lao động người dân tộc vào học ở các trường dạy nghề của tỉnh, tạo điều kiện cho học sinh Khmer được cử tuyển và thi đậu vào trường đại học, hỗ trợ học tiếp sau đại học. Đồng thời, đưa cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” đi vào chiều sâu, trong đó đặc biệt chú ý thực hiện tốt chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc của đồng bào Khmer; tổ chức huy động các nguồn lực trong xã hội để tham gia tôn tạo, giữ gìn, sưu tầm các công trình văn hoá vật thể và phi vật thể của văn hoá Khmer Nam bộ. Thực hiện tốt các chương trình quốc gia về y tế, dân số - kế hoạch hoá gia đình.

4. Thường xuyên giáo dục ý thức cảnh giác, đấu tranh chống âm mưu “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch xuyên tạc lịch sử, gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, tôn giáo; tăng cường giáo dục ý thức pháp luật, nhất là quy chế qua lại biên giới giữa cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Campuchia; giải quyết kịp thời, đúng luật các vụ khiếu kiện, tranh chấp trong nội bộ nhân dân không để xảy ra điểm nóng. Thực hiện tốt chính sách tín ngưỡng, tôn giáo trong vùng đồng bào Khmer, kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn kịp thời những hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại cuộc sống bình yên của nhân dân.

Phát triển toàn diện vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer là một chủ trương lớn của Tỉnh uỷ Trà Vinh, bởi sự thành công của chủ trương này không chỉ dừng lại ở chỗ đảm bảo lợi ích kinh tế - xã hội cho bản thân người dân tộc, mà với tính chất đặc thù của vấn đề trên, trong bối cảnh phức tạp của tình hình khu vực và thế giới hiện nay, nó còn tác động đến sự ổn định về chính trị của địa phương và cả nước. Để đạt được những yêu cầu trên đây, vấn đề có tính chiến lược hàng đầu là phải đặc biệt củng cố, tăng cường tổ chức bộ máy cơ quan tham mưu và tập trung xây dựng hệ thống chính trị trong vùng có đông đồng bào dân tộc sinh sống thật sự trong sạch, vững mạnh, nhằm tạo ra phong trào hành động cách mạng thiết thực, thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong vùng đồng bào dân tộc trên địa bàn toàn tỉnh, góp phần ổn định tình hình chung cho khu vực và cả nước.

Nguyễn Thái Bình
Uỷ viên Trung ương Đảng
Bí thư Tỉnh uỷ Trà Vinh

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,462,319


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs