Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 24/11/2005
Thực trạng và giải pháp phát triển giáo dục ở vùng có đông đồng bào Chăm

Trong cộng đồng các dân tộc cùng chung sống trên lãnh thổ Việt Nam, đồng bào Chăm là một bộ phận hữu cơ với những giá trị truyền thốn lâu đời, độc đáo, góp phần tạo nên sắc thái đa diện của nền văn hoá Việt Nam. Người Chăm sinh sống chủ yếu tại 12 tỉnh, thành phố từ miền Trung trở vào (Bình Định, Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Thuận, An Giang, Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Phước, Đồng Tháp) với dân số khoảng 137.000 người, trong đó 80% dân số người Chăm sống ở các tỉnh Nam Trung Bộ, tỉnh có đông đồng bào Chăm sinh sống là Ninh Thuận (11,72% dân số toàn tỉnh, chiếm hơn 50% dân số người Chăm toàn quốc).

Đến nay 100% xã, phương vùng đồng bào Chăm có trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở; các huyện, thị có ít nhất 1 trường trung học phổ thông, trong đó đáng lưu ý là hầu hết các tỉnh có trường dân tộc nội trú cho học sinh là con em các dân tộc thiểu số trong đó có con em đồng bào Chăm. Tỉnh Ninh Thuận có 22 xã có người Chăm sinh sống, trong đó có 4 xã thuần Chăm thì có tới 3 trường phổ thông nội trú cấp huyện và 1 trường dân tộc nội trú cấp tỉnh. Trung tâm học tập cộng đồng đang được phát triển nhanh tại nhiều địa phương, đáp ứng nhu cầu học tập và trao đổi thông tin, kiến thức khoa học – kỹ thuật cho đồng bào (Trung tâm Giáo dục cộng đồng ở Phước Thái, Ninh Phước, Ninh Thuận là một điển hình).

Chương trình kiên cố hoá trường học đã đạt kết quả tốt ở nhiều địa phương. Huyện Vân Canh (tỉnh Bình Định) 100% số trường được xây dựng kiên cố, 60% cơ sở chính của các trường được tầng hoá. Tại ấp Hoà Lộc thuộc tỉnh Bình Dương có 66 hộ/115 hộ người Chăm toàn tỉnh đã được tỉnh đầu tư xây dựng 5 phòng học tại ấp. Huyện Bắc Bình (Bình Thuận) có 3 xã đông đồng bào Chăm thì tại 2 xã có 3 trường mầm non, 5 điểm trường tiểu học, 2 trường trung học cơ sở, xã còn lại thì học chung với trường nội trú huyện.

Đội ngũ giáo viên dạy ở vùng đồng bào Chăm được đào tạo cơ bản ngày càng nhiều và từng bước được bồi dưỡng chuẩn hoá nên trình độ được nâng lên theo yêu cầu mới. Công tác đào tạo giáo viên người Chăm được quan tâm, nhất là giáo viên dạy chữ Chăm. Tỉnh Ninh Thuận giáo viên là người Chăm có 867/5.500 giáo viên toàn tỉnh trong đó 236 giáo viên dạy chữ Chăm ở 23 trường tiểu học có đông học sinh Chăm. ở huyện Bắc Bình (tỉnh Bình Thuận) có 93/645 giáo viên tiểu học (14,4%), có 65/326 giáo viên trung học cơ sở (20%), có 36/138 giáo viên trung học phổ thông (26%). Tỷ lệ giáo viên Chăm đạt chuẩn đào tạo ở Bình Thuận: 85%, Phú Yên 97,5%...

Công tác xoá mù và phổ cập giáo dục tiểu học được chú trọng, hiện tại công tác phổ cập trung học cơ sở được triển khai đều khắp và thực hiện có hiệu quả, 100% số xã đạt chuẩn xoá mù và phổ cập giáo dục tiểu học từ năm 2000. Đến nay trong vùng đồng bào Chăm cứ 3-4 người dân có 1 người đi học.

Học sinh là con em đồng bào Chăm đến trường, đỗ tốt nghiệp và lên lớp hàng năm ở các cấp đều tăng. Tỷ lệ người có trình độ đại học và sau đại học trên tổng số người Chăm đạt khá cao, tính riêng 6 tỉnh có đông người Chăm sinh sống là Ninh Thuận, Bình Thuận, An Giang, Phú Yên, Bình Định, Tây Ninh có 807 người đạt trình độ đại học. ở huyện Hàm Thuận Bắc (Bình Thuận) hiện có 3.935 người Chăm thì có 758 học sinh tiểu học, có 591 học sinh trung học cơ sở, có 40 học sinh trung học phổ thông, có 19 học sinh đang học chuyên nghiệp, có 11 sinh viên đã tốt nghiệp đại học và có 21 giáo viên.

Việc dạy chữ Chăm cho con em đồng bào Chăm đã được quan tâm tổ chức thực hiện từ nhiều năm nay trong các trường tiểu học. Một số địa phương như Ninh Thuận, Bình Thuận chủ động thành lập trung tâm nghiên cứu, biên soạn tài liệu dạy tiếng Chăm. Bố trí những giáo viên biết tiếng Chăm chuyên lo dạy tiếng Chăm cho học sinh. Huyện Hàm Thuận Bắc của tỉnh Bình Thuận đến nay đã mở được 17 lớp dạy tiếng Chăm cho 525 học sinh từ lớp 1 đến lớp 5, với thời lượng 8 tiếng/tuần, do 8 giáo viên người Chăm trực tiếp dạy. Đối với người lớn, một số địa phương đã tổ chức dạy tiếng ả rập, gần đây đã có chương trình dạy tiếng Chăm trên ti vi.

Công tác cử tuyển đối với con em đồng bào Chăm được thực hiện tương đối tốt, nhiều học sinh Chăm được cử tuyển, xét tuyển vào các trường dân tộc nội trú, các trường đại học, dự bị đại học. Từ năm 1999 đến năm 2004 cử tuyển được 89 học sinh, xét tuyển 105 học sinh Chăm học dự bị đại học dân tộc. Theo thống kể của trường Dự bị đại học dân tộc thành phố Hồ Chí Minh thì năm học 2004 - 2005 số học sinh dân tộc Chăm được xét tuyển vào học tại trường là 274 em so với số học sinh dân tộc thiểu số khác được vào học tại trường, đây là tỉ lệ hàng đầu.

Tuy vậy, sự phát triển mạng lưới trường lớp cho con em vùng đồng bào Chăm chưa đồng đều, các loại hình trường bán trú chưa phát triển. Một bộ phận đồng bào Chăm thường xuyên đi làm ăn xa nên đã ảnh hưởng đến việc học tập của trẻ em. Xây dựng cơ sở vật chất trường lớp theo hướng kiên cố hoá được chú ý đẩy mạnh, song mới chỉ đáp ứng được cơ sở hạ tầng của nhà trường, các phòng chức năng và trang thiết bị còn rất nghèo nàn hoặc chưa có. Việc qui hoạch tổng thể phát triển theo qui chuẩn ngành học chưa có nên số trường đạt chuẩn quốc gia thuộc vùng đồng bào Chăm nói chung rất thấp. Huyện Dầu Tiếng của tỉnh Bình Dương, nơi tập trung đa số đồng bào Chăm sinh sống không có trường học nào đạt chuẩn quốc gia. ở An Giang chỉ mới có 1 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia.

Đội ngũ giáo viên người Chăm còn ít so với nhu cầu. Ngoài tỉnh Ninh Thuận giáo viên người Chăm chiếm tỉ lệ khá cao (15% so với giáo viên toàn tỉnh), còn các địa phương khác có tỉ lệ rất thấp. Giáo viên người Chăm chủ yếu ở ngành học mầm non và ở bậc tiểu học còn các cấp học cao hơn thì rất ít (Tỉnh An Giang có 0,02% giáo viên người Chăm ở tiểu học còn các cấp học khác không có). Tỉ lệ giáo viên người Chăm là đảng viên quá thấp (An Giang 0,03%; Bình Dương không có). Giáo viên người Kinh dạy ở vùng đồng bào Chăm có những hạn chế nhất định do không am hiểu sâu về phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng… của đồng bào, nên công tác vận động nhân dân chăm lo đến giáo dục còn hạn chế.

Việc dạy chữ Chăm ở các vùng chưa thống nhất, có nơi dạy chữ Chăm cổ, có nơi dạy chữ Chăm bằng mẫu tự ả rập, có nơi đang muốn xây dựng chữ Chăm bằng mẫu tự La tinh. Đặc biệt là tình trạng thiếu giáo viên người Chăm và thiếu giáo viên biết tiếng Chăm.

Để đẩy nhanh sự phát triển giáo dục - đào tạo vùng đồng bào Chăm cần tập trung vào những giải pháp sau:
Các cấp uỷ đảng, chính quyền nơi có đông đồng bào Chăm cần quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng về chính sách đại đoàn kết dân tộc, trên cơ sở đó vận dụng vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo.

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc dù đông dân cư hay ít dân cư đều được hưởng chủ trương, chính sách ưu tiên của Đảng và Nhà nước. Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời cuối năm 1946 đã xác định rõ về mặt pháp lí quyền bình đẳng dân tộc, từ đó đến nay, trong mỗi bước tiến về nền pháp chế đất nước, lại càng thể hiện sâu sắc triết lí nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh: “Kiên quyết xoá bỏ thành kiến dân tộc, quan tâm chăm lo đời sống vật chất và đời sống tinh thần của đồng bào, khắc phục dần những tập tục lạc hậu… từng bước đưa đồng bào dân tộc thoát khỏi đói nghèo, tăm tối, tiến kịp đồng bào miền xuôi”. Tư tưởng cách mạng của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc đã được cụ thể hoá trong các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng ta và được triển khai thực hiện thông qua các chương trình, đề án.

Các cơ quan, ban ngành Trung ương, nhất là ngành giáo dục cần nhận thức sâu sắc vai trò của mình đối với sự nghiệp nâng cao trình độ dân trí, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo nguồn nhân lực cho đồng bào Chăm. Nhận thức này phải được cụ thể hoá bằng qui hoạch mang tính đặc thù cho một số vấn đề liên quan đến giáo dục vùng đồng bào Chăm (như đổi mới qui chế xét tuyển, hỗ trợ chương trình dạy tiếng Chăm, chữ Chăm, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên người Chăm…). Các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương tiếp tục quan tâm hơn nữa tới phương pháp chỉ đạo, quản lý giáo dục cho sát hợp với hoàn cảnh, đặc điểm tâm lí, đặc điểm tôn giáo của người Chăm tại địa phương, năng động hơn trong việc đề ra chủ trương và giải pháp phát triển giáo dục đối với đồng bào Chăm.

Chăm lo phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên; nâng cấp cơ sở vật chất phục vụ dạy học ở vùng có đông đồng bào Chăm.

Cán bộ quản lý, giáo viên có vai trò quyết định chất lượng giáo dục, đối với giáo dục vùng đồng bào Chăm nên vấn đề tăng cường công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, cập nhật kiến thức và phương pháp giảng dạy theo yêu cầu đổi mới phải được chú trọng; bên cạnh đó còn cần phải trang bị cho cán bộ quản lý và giáo viên những hiểu biết cần thiết về tâm lí, tôn giáo, tín ngưỡng của đồng bào Chăm. Vấn đề phát triển đảng viên trong đội ngũ giáo viên là người Chăm cũng cần được chú ý để ngày càng nâng cao tính chính trị trong sự nghiệp giáo dục, góp phần thực hiện tốt Chỉ thị 34-CT/TW (ngày 30/5/1998) và Chỉ thị 40-CT/TW (ngày 15/6/2004).
Nâng cấp cơ sở vật chất phục vụ dạy học không chỉ là nhiệm vụ trước mắt mà còn là nhiệm vụ lâu dài nhằm đáp ứng tối thiểu điều kiện dạy học theo hướng hiện đại. Do vậy việc xây dựng nhà trường cũng như cung ứng thiết bị dạy học phải được thực hiện trong một qui hoạch tổng thể, tránh chắp vá, manh mún, ưu tiên đầu tư từng bước để đạt được theo qui chuẩn (có sân chơi, bãi tập, có phòng bộ môn, có phòng chuyên dụng…). Mỗi nhà trường cần có qui hoạch khuôn viên, các đơn nguyên đáp ứng hoạt động chuyên môn và quản lý của nhà trường, trong đó nên chú ý xây dựng môi trường xanh, sạch đẹp, tránh xi măng hoặc bê tông hoá sân trường. Với những nơi có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà cần phải xây dựng trường bán trú thì phải đảm bảo mặt bằng, đảm bảo trang bị phục vụ hỗ trợ học sinh việc ăn uống, nghỉ ngơi và học tập.

Chú ý xây dựng chương trình, biên soạn tài liệu để từng bước đáp ứng nhu cầu học tiếng Chăm, chữ Chăm cho học sinh vùng có đông đồng bào Chăm.

Xây dựng chương trình, sách giáo khoa phục vụ dạy tiếng Chăm, chữ Chăm cho học sinh vùng đồng bào Chăm là một nhiệm vụ khá nặng nề đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo trong thời gian tới, bởi vì chữ viết và tiếng Chăm cổ ở các vùng đồng bào Chăm không thuần nhất một loại chữ hay một loại tiếng mà có nhiều thứ ngôn ngữ Chăm đang tồn tại, hơn nữa văn tự Chăm cổ đang là bí ẩn ngay cả đối với người Chăm. Bộ Giáo dục cần có những định hướng như: dạy tiếng Chăm, chữ Chăm là để góp phần lưu giữ, bảo tồn và phát triển văn hoá Chăm, đồng thời giúp cho học sinh người Chăm học tốt hơn chương trình và sách giáo khoa mới; chỉ nên dừng ở một trình độ phổ thông, sơ giản làm vốn ban đầu cho học sinh giao tiếp, vận dụng để hiểu bài học, còn ở cấp độ cao hơn thì dành cho các đối tượng nghiên cứu chuyên sâu hoặc đào tạo tại các trường sư phạm; nên coi đó là một nội dung phương ngữ tự chọn. Việc biên soạn tài liệu phải dựa trên cơ sở đặc điểm ngôn ngữ Chăm và khả năng cũng như điều kiện học tập của học sinh người Chăm. Đối tượng dạy tiếng Chăm, chữ Chăm cần được đào tạo chính qui ở trường sư phạm và ưu tiên đào tạo giáo viên dạy tiếng Chăm là người Chăm.

TS. Trần Viết Lưu - Ban Khoa giáo Trung ương

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,863,442


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs