Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Trái bầu nước trong cuộc sống của người Mnông

 01/06/2009

Nhà sàn của đồng bào Mnông

Đến Tây Nguyên gặp bất cứ một nhóm người dân tộc thiểu số tại chỗ nào như Mnông, Ê-đê, Ba-na, Cơ-ho… đi lên rẫy thì du khách đều thấy người ta mang theo những trái bầu khô, có thể đeo ngang hông, bỏ trong gùi hoặc cầm trên tay với vẻ trân trọng.

Đó là trái bầu nước đã gắn bó với bà con nơi đây từ bao đời nay, mặc dù trên thị trường bán rất nhiều vật dụng khác bằng nhựa, kim loại giản tiện hơn song người ta vẫn không thích dùng.

Theo các già người Mnông kể lại thì trái bầu đựng nước cũng là giống bầu ăn trái bụng phình to, cổ thon lại cao khoảng 10cm nhưng phải được trồng trên mảnh đất cằn cỗi, tuy lâu có trái và trái nhỏ nhưng vỏ rất dày và bền. Khi bầu kết trái to bằng nắm tay thì chọn chừa lại mỗi dây 2-3 trái đẹp nhất không méo mó số còn lại vặt bỏ hết. Lúc còn non người ta phải treo trên cổ bầu một loại lá cây làm cho ruồi nhặng sợ không đục, khi bầu bắt đầu cứng vỏ thì thận trọng cột giữ cho chắc trên giàn rồi dùng gai cây rừng vẽ hoa văn, hoạ tiết tuỳ theo ý thích mỗi người. Không chỉ vẽ một lần là được mà cứ vài ngày phải nạo lại nét vẽ kẻo bầu lớn bít mất và đợi khi nào dây bầu héo khô mới cắt đem về nhà. Người ta làm cơm cúng Giàng rồi mới dùng mũi dao nhọn, bén đục lỗ phía trên cổ bầu, lấy cái móc xoắn luồn vào lôi hết ruột, hột ra và đổ nước vôi vào ngâm. Ngâm như thế nửa tháng mới trút nước bỏ và đem cho 7-8 trái bầu vào nồi to cài cây phía trên cho chìm ngập nước luộc hai đêm hai ngày mới vớt ra (bầu được luộc không bị mối, mọt đục). Tiếp đến là ngâm và súc nước lạnh ngày hai lần suốt 7 ngày cho sạch xơ bầu bên trong mới sửa chữa lại hoa văn, hoạ tiết cho sắc nét. Nhiều người thích sơn bầu bằng nhựa của một loại củ rừng; việc sơn rất cầu kỳ, mỗi ngày phải dùng chổi quét tới 5-7 lần đem phơi nắng, khô lại quét tiếp đến cả một tháng mới ngấm (chứ không phải là sơn hoá chất như ta tưởng). Có người thích để vỏ mộc như vậy nhưng cũng được đánh bóng bằng lá cây ráp phơi hơi héo hàng chục lần đến độ soi gương được mới thôi. Mỗi người trong nhà từ 10 tuổi trở lên đều có bầu nước riêng để đem theo khi đi rừng hoặc đi rẫy, thậm chí đem đi học. Nhà nào cũng có một trái bầu rất to có thể chứa được từ 8-10 lít nước để uống, tiếp khách gọi là “bầu cái” đặt trong góc nhà và người mẹ phải có trách nhiệm không để bầu cạn khô nước và các bầu “con” được lấy nước từ bầu mẹ này. Ngoài ra bầu còn dùng vào rất nhiều việc như đựng rượu, ngâm thuốc bổ, đựng hạt giống có khi đựng cả canh mang lên rẫy, nhưng bầu nào dùng cho việc gì thì chỉ có việc ấy chứ không đựng lộn xộn.

Ngày xưa trai gái đến tuổi cặp kê thường hay lấy trái bầu nước tỏ tình với nhau bằng cách, chàng trai đã để ý cô gái nọ mà không dám ngỏ lời thì chàng phải về trồng một dây bầu; thỉnh thoảng kiếm cớ rủ cô gái ra đứng dưới gốc bầu trò chuyện, khi bầu già tự tay chàng phải trổ hết tài năng làm một trái vừa xinh xắn vừa có hoa văn đẹp nhờ người đem tặng và chờ đợi. Nếu như đầu mùa rẫy năm ấy mà nàng cột đúng trái bầu ấy lủng lẳng sau gùi là nàng đã chấp nhận lời cầu hôn. Lúc này cứ mạnh miệng nói thẳng lời yêu thương thì chẳng mấy bữa cha mẹ nàng sẽ nhờ mai mối đến dạm hỏi ngay (tục người Mnông con gái bắt chồng); nhưng nếu thấy nàng đeo trái bầu không phải của mình thì nên rút lui bởi “anh đã đến muộn em đã trót nhận bầu của người đến trước”. Tập tục này cho đến nay nhiều buôn người Mnông và một số dân tộc khác ở vùng sâu vẫn giữ. Cũng bởi trái bầu vừa là vật dụng không thể thiếu trong sinh hoạt hàng ngày và đã từng là cầu nối tình duyên nhiều đôi lứa nên nó gắn bó mật thiết với người Mnông suốt bao đời nay./.

K’Sim Hậu

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Suối Đồng, Thôn văn hoá của những trái tim nhân hậu (11/2005)
  •  
  • Từ Chi nhà dân tộc học bậc thầy (11/2005)
  •  
  • Cô giáo của buôn làng (11/2005)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 59,874,153


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs