Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 19/08/2005
Ý kiến đề nghị của các địa phương

 Ông Đặng Hồng Tư
Trưởng ban Dân tộc và tôn giáo tỉnh Cao Bằng:

Quá trình chỉ đạo, tổ chức thực hiện Quyết định 134 dù có nhiều khó khăn, nhưng đa số cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể trong tỉnh đã xác định được nhiệm vụ, thấy rõ mục đích, ý nghĩa của chính sách, quyết tâm huy động mọi nguồn lực để thực hiện. Đây là sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, giúp đồng bào giải quyết những khó khăn nhất để ổn định cuộc sống, vươn lên thoát cảnh đói nghèo. 
Tuy nhiên, việc triển khai của Cao Bằng chúng tôi cũng còn chậm chưa thật đồng đều giữa các huyện, các xã; trong thực hiện còn nhiều lúng túng, thiếu sự phối kết hợp của một số ban ngành liên quan trong việc chỉ đạo giúp đỡ cấp dưới. Một số huyện, xã do nhiều công tác trọng tâm, đột xuất nên chưa tập trung sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể vào công tác này; công tác tuyên truyền, vận động còn yếu, huy động nguồn lực của cộng đồng còn hạn chế.

Để triển khai thực hiện có hiệu quả Quyết định 134, tỉnh Cao Bằng có một số kiến nghị sau:

1. Bố trí, đảm bảo đủ nguồn vốn theo kế hoạch của Đề án mà tỉnh đã trình các Bộ, ngành ở Trung ương. Vốn phải sớm được chuyển về địa phương để tổ chức thực hiện tránh mùa mưa lũ.

2. Tăng mức hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nước sinh hoạt cho các hộ gia đình lên gấp 3 lần mức hỗ trợ hiện tại.

3. Công tác chỉ đạo, điều hành của Ban chỉ đạo các cấp rất nặng nề, do vậy đề nghị các Bộ, ngành Trung ương nên bố trí kinh phí hoặc có văn bản chỉ đạo cụ thể đối với địa phương để bố trí kinh phí phục vụ cho công tác chỉ đạo, quản lý và điều hành.

4. Đề nghị Chính phủ có ý kiến chỉ đạo cho phép ngân hành chính sách xã hội cho đồng bào nghèo, đời sống khó khăn vay vốn với thời hạn 5 năm để kết hợp thực hiện các nhiệm vụ của Quyết định 134 (chủ yếu là làm nhà, chuyển nhượng đất sản xuất).

5. Hiện nay năng lực, trình độ cán bộ cấp xã còn hạn chế, cơ sở vật chất chưa đảm bảo, do đó việc cấp phát, thanh toán giao cho cấp xã sẽ không đảm bảo, chậm tiến độ thực hiện. Đề nghị Bộ Tài chính cho phép chỉ áp dụng hình thức cấp phát, thanh toán theo Thông tư 121 đối với những xã có đội ngũ cán bộ đủ năng lực, cơ sở vật chất đảm bảo, còn những xã đội ngũ cán bộ năng lực yếu, cơ sở vật chất chưa đảm bảo thì việc cấp phát, thanh toán giao cho Phòng chuyên môn cấp huyện thực hiện.

6. Đề nghị các Bộ, ngành Trung ương cho phép Cao Bằng sử dụng kinh phí 134 để xây dựng các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung tại vùng Lục Khu – Hà Quảng có tổng vốn đầu tư lớn.

Ông Phạm Quang Tứ
Phó Trưởng Ban quản lý thực hiện Quyết định 134 
huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam:

Công tác khai thác gỗ hỗ trợ làm nhà cho nhân dân hiện nay gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại. Quy chế quản lý, khai thác gỗ của Bộ Nông nghiệp – Phát triển nông thôn theo tinh thần Quyết định số 03/2005/QĐBNN và Quyết định số 04/2004/QĐBNN-LN là khó có khả năng tổ chức thực hiện. Các quy định về thiết kế, thẩm định, phê duyệt, quy định khai thác, nghiệm thu nhiều giai đoạn, trong đó công tác bài cây không phù hợp với tình hình thực tế.

Về nguồn vốn quản lý: Hiện nay tỉnh mới hỗ trợ 1,2% trên tổng số vốn đầu tư, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phải mất nhiều thời gian, nhiều người nên Ban quản lý hiện nay đang gặp khó khăn về nguồn kinh phí quản lý điều hành.

Từ thực tế trên chúng tôi đề nghị Chính phủ, các Bộ, ngành trung ương xem xét đối với các hộ xây dựng tại các khu dân cư có thuận lợi về giao thông, hộ xây dựng nhà bằng vật liệu gạch, ngói, bê tông và các loại vật liệu khác, không khai thác gỗ, đề nghị tăng mức hỗ trợ từ 5 triệu đồng lên 8 triệu đồng.

Thời gian thực hiện chương trình: đề nghị tăng thêm 2 năm theo quy định (2005 – 2008).
Về vốn, đề nghị Chính phủ, các Bộ ngành cấp vốn đáp ứng theo phân kỳ đầu tư nhằm đẩy nhanh được tiến độ, thực hiện đồng bộ các mục tiêu để đạt hiệu quả cao nhất. Tăng mức hỗ trợ kinh phí quản lý, điều hành của dự án phù hợp với nhiệm vụ hiện nay, tạo điều kiện cho cán bộ thực hiện nhiệm vụ sát thực tế, nhằm quản lý, chỉ đạo hướng dẫn đạt mục đích cao nhất.

Ông Sơn Minh Thắng
Trưởng Ban dân tộc tỉnh Trà Vinh:

Số hộ có nhu cầu về đất ở (7.517 hộ) và đất sản xuất (23.602 hộ) của tỉnh Trà Vinh chúng tôi rất lớn, trong khi tỉnh không có quỹ đất công (nông trường, lâm trường hay đất bỏ hoang cũng không có).

Đất thuộc sở hữu của mỗi người dân cũng không nhiều, cho nên khó mà vận động để sang nhượng. Giá đất nông nghiệp hiện nay ở tỉnh Trà Vinh tối thiểu từ 20 triệu đồng cho 1.000m2.

Đất để xây dựng trạm cấp nước (với diện tích 5 x 10 = 50m2) giao cho địa phương và cộng đồng đóng góp, khi triển khai đề án ở một số địa phương bị vướng, không triển khai được do không huy động được quỹ đất. Những địa phương này đề nghị tỉnh hỗ trợ kinh phí.

Chính sách về đất ở chậm có nên ảnh hưởng đến tốc độ triển khai đề án về nhà ở. Bởi có đất mới tiến hành xây nhà được. Hơn nữa, Trà Vinh là một tỉnh nghèo nhất khu vực, đời sống một bộ phận nhân dân còn khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao (trên 15% dân số) cho nên ảnh hưởng đến việc huy động nguồn lực để thực hiện chính sách.

Để khắc phục tình trạng trên, chúng tôi kiến nghị:

Thứ nhất, Chính phủ sớm ban hành chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở đối với hộ đồng bào dân tộc Khmer nghèo ở đồng bằng sông Cửu Long, trong đó lưu ý đào tạo nghề nghiệp, kỹ năng lao động và giải quyết việc làm cho người lao động nghèo và hướng dẫn cho đồng bào cách làm giàu. Bên cạnh đó cần lưu tâm đến giá đất ở đồng bằng sông Cửu Long, khi đưa ra quyết định mức hỗ trợ. Thứ hai, Trung ương phân bổ vốn kịp thời cho địa phương để tổ chức thực hiện.

Mong rằng những tồn tại, hạn chế đã được chỉ ra cùng những kiến nghị, đề nghị của các địa phương nhanh được xem xét giải quyết để các hộ dân tộc thiểu số nghèo đời sống khó khăn sớm có được nhà ở, đất ở, đất sản xuất và nước sinh hoạt. Để thành quả của cách mạng cùng sự quan tâm của Đảng và Nhà nước sớm hiện hữu trong đời sống của đồng bào.

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,917,888


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs