Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 19/08/2005
Một số vấn đề đặt ra trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo ở các tỉnh miền núi phía bắc nước ta hiện nay


Các em học sinh lớp 7 Trường Phổ thông dân tộc nội trú Điện Biên Đông học trên giáo cụ trực quan

Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay, cùng với khoa học công nghệ, giáo dục - đào tạo Đảng, Nhà nước xác định là quốc sách hàng đầu. Những năm vừa qua, giáo dục - đào tạo các tỉnh miền núi phía Bắc đã đạt được những thành tựu đáng kể như nâng cao trình độ dân trí, xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học cho đồng bào các dân tộc thiểu số.

Tuy nhiên, do đặc điểm về địa bàn cư trú, trình độ dân trí thấp, trình độ phát triển kinh tế – xã hội còn hạn chế đã làm cho giáo dục đào tạo các tỉnh miền núi phía Bắc gặp nhiều khó khăn, còn nhiều vấn đề bất cập đặt ra cần giải quyết.

Thứ nhất, quy mô giáo dục - đào tạo còn nhiều hạn chế. Hiện nay, nhu cầu học tập và nâng cao trình độ của người dân vẫn chưa được đáp ứng, nhất là đối với con em đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa. Trong ngành học mầm non, nhiều địa phương như Phìng Sáng (Tuần Giáo - Điện Biên), Yên Châu (Sơn La)… đến nay vẫn phải ghép với trường tiểu học, có lớp do nhân dân tự đóng góp xây dựng nên rất sơ sài, tạm bợ, nền đất mất vệ sinh… không thể đáp ứng được tiêu chuẩn tối thiểu cho việc chăm sóc trẻ dẫn đến tỷ lệ trẻ đến trường các tỉnh miền núi phía Bắc thấp. ở những vùng sâu, vùng xa chỉ có 25% đến 30% trẻ đến trường, thậm chí có những vùng tỷ lệ là 0%. Do vậy, để đạt được tỷ lệ trung bình của cả nước là 60% quả là một nhiệm vụ khó khăn của chính quyền và ngành giáo dục ở những tỉnh miền núi phía Bắc.

Ở bậc tiểu học, học sinh là con em đồng bào thiểu số chiếm tỷ lệ thấp so với học sinh người Kinh (Kinh 81,37%, Tày 69,39%, Thái 53,38%, Mông 38,14%).

Ở bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông, mặc dù các tỉnh đã đầu tư xây dựng nhiều trường phổ thông dân tộc nội trú cấp tỉnh kiên cố với điều kiện học tập tốt hơn nhưng tiêu chuẩn số lượng được tuyển chọn mỗi năm có hạn. Các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện, khả năng đào tạo thường khoảng 200 học sinh một năm, đây là tỷ lệ thấp so với nhu cầu người học. Ngoài ra, trong chỉ tiêu tuyển sinh vẫn còn nhiều thiếu sót mà trong những năm gần đây, báo chí và những phương tiện truyền thông đã nhiều dịp đăng tải.

Ở bậc học cao hơn, cơ hội tiếp cận của con em đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây càng ít. Tỷ lệ người có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học thấp, cứ 72.554 người thì mới chỉ có 1 người có trình độ trên đại học, 441 người mới có 1 người có trình độ đại học, cao đẳng và 111 người mới có 1 người có trình độ trung học chuyên nghiệp. Có những dân tộc như Cờ Lao, Pà Thẻn ở Hà Giang hiện vẫn chưa có ai có trình độ phổ thông.

Thứ hai, cơ sở vật chất phục vụ cho phát triển giáo dục - đào tạo còn thiếu và chưa đồng bộ. Cho đến nay, nguồn kinh phí đầu tư để xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị giáo dục vẫn không đủ, nhiều tỉnh còn thiếu phòng học, học sinh phải học ở những lớp học tạm bợ. Trang thiết bị dạy học vừa thiếu vừa không đồng bộ, hiện mới chỉ đáp ứng được khoảng 20% yêu cầu, tình trạng phổ biến vẫn là dạy “chay”, học “chạy”. ở Lai Châu, số phòng học mới chỉ đáp ứng được 1/2 nhu cầu hiện tại, nhiều trường vẫn phải học 3 ca. ở Lào Cai, vẫn còn 28% số phòng học tạm, chỉ có 18,2% số trường có thư viện. ở Sơn La, vẫn còn 2.498 phòng học tranh, tre, nứa, lá. ở Hoà Bình, vẫn còn 2.253 phòng học tạm. ở Bắc Cạn, số phòng học tạm là 910, trong đó có 462 phòng tranh, tre, nứa, lá.

Hầu hết trang thiết bị tại các trường học chỉ có bảng đen, bàn ghế được sử dụng chung cho tất cả các học sinh trường cùng cấp học và các lớp ghép nên gây khó khăn trong học tập đối với học sinh. Một tình trạng khá phổ biến là không đủ sách cho học sinh học tập và nâng cao trình độ. Thư viện các trường chủ yếu chỉ có sách giáo khoa nhưng cũng không đồng bộ, sách tham khảo hầu như không có. Giáo viên dạy các môn nhạc, hoạ, ngoại ngữ, tin học… thiếu trầm trọng, các phương tiện dạy, học cho những môn này cũng chưa được trang bị đầy đủ, vì vậy, cơ hội được học tập toàn diện các môn cho học sinh còn rất ít.

Thứ ba, đội ngũ giáo viên ở các tỉnh miền núi phí Bắc vừa thiếu, vừa yếu.

Về số lượng: Hiện nay, những tỉnh này vẫn còn thiếu nhiều giáo viên ở tất cả các cấp học. Ngoại trừ Lai Châu là tương đối đủ giáo viên trung học, các tỉnh khác đều gặp khó khăn. Hoà Bình thiếu 215 người, Sơn La thiếu 209 người, Lao Cai thiếu gần 200 người, Bắc Cạn thiếu 66 người. Với giáo viên trung học cơ sở, Lai Châu thiếu 300 người, trong đó, vẫn còn 172/2.200 bản chưa có giáo viên, Lao Cai thiếu 700 người. Với giáo viên tiểu học, Bắc Cạn thiếu 208 người, Lao Cai thiếu 1.115 người. Tình trạng thiếu giáo viên dẫn đến việc các trường phải huy động dạy học thêm ca, thêm giờ, có giáo viên phải lên lớp tới 30-35 tiết/tuần, 250 tiết/học kỳ, ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ lâu dài và chất lượng giảng dạy.

Về chất lượng: Do đội ngũ giáo viên ở đây được đào tạo hệ cử tuyển và tại chức nhiều vì thế chất lượng còn nhiều hạn chế. ở Lai Châu, số giáo viên dạy trung học phổ thông có thâm niên trong nghề từ 1-5 năm học hệ cử tuyển và tại chức chiếm tỷ lệ 25 – 30% (thậm chí có trường tới 80%), tỷ lệ giáo viên chưa đạt chuẩn còn cao. Năm học 2003 – 2004, tỉnh Bắc Cạn còn 13,94% giáo viên trung học cơ sở và 25% giáo viên tiểu học chưa đạt chuẩn, con số này ở Lào Cai là 20,6% và 20%, tỉnh Lạng Sơn là 20% và 10%.

Ở những xã đặc biệt khó khăn có chỉ tiêu biên chế nhưng không có nguồn giáo viên để tuyển dụng. Trong khi ở ngay tại địa phương thì không có đủ giáo viên (kể cả trình độ dưới chuẩn) để tuyển dụng thì những giáo viên sống ở các vùng ít khó khăn hơn và giáo viên người Kinh hầu hết không muốn về công tác ở những vùng này. Một hạn chế nữa là một bộ phận giáo viên người Kinh không biết tiếng dân tộc thiểu số, không hiểu phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số, còn một bộ phận giáo viên là người dân tộc thiểu số thì trình độ chuyên môn lại thấp, khả năng sử dụng tiếng phổ thông còn yếu, do đó trong quá trình giảng dạy gặp rất nhiều khó khăn đã ảnh hưởng lớn đến chất lượng giáo dục.

Thứ tư, chất lượng giáo dục - đào tạo ở các tỉnh miền núi phía Bắc nhìn chung còn thấp. Qua khảo sát cho thấy, chỉ số phát triển giáo dục ở các tỉnh này chưa đều, chỉ có 3 tỉnh ở trong nhóm có chỉ số cao là Lạng Sơn, Phú Thọ, Hoà Bình, còn lại phần lớn các tỉnh khác rất thấp, Sơn La là 0,65, Lào Cai là 0,66, Lai Châu 0,50. Vì vậy, số lượng học sinh giỏi rất ít, thậm chí nhiều trường không có, học sinh có học lực trung bình và yếu chiếm tới hơn 50%. Tỷ lệ học sinh bỏ học vẫn còn nhiều, huyện Quản Bạ (Hà Giang) có 5,0% số trẻ em trong độ tuổi học tập bỏ học, huyện Văn Chấn (Yên Bái) tỷ lệ này là 6,63%, huyện Điện Biên Đông (Điện Biên) tỉ lệ bỏ học là 8,27%, Mộc Châu (Sơn La) là 5,43%. Tỷ lệ học sinh lưu ban còn cao so với các khu vực khác, Mộc Châu (Sơn La) hiện vẫn còn 5,01% học sinh lưu ban, Điện Biên Đông (Điện Biên) tỷ lệ này là 5,53%, Sa Pa (Lào Cai) là 4,25%.
So với các vùng khác trong cả nước, hiệu suất đào tạo ở khu vực này còn rất thấp. Hiện có tới 4 tỉnh miền núi phía Bắc trong số 7 tỉnh của cả nước có hiệu suất đào tạo dưới 50% là: Cao Bằng 47,33%, Sơn La 42,67%, Lai Châu (cũ) 37,6%, Hà Giang 21,76%. Với hiệu suất đào tạo thấp như vậy, sẽ có ít cơ hội cho người dân trong vùng tham gia học tập, hiện số người mù chữ còn cao, đặc biệt là trong đồng bào các dân tộc thiểu số. ở Lào Cai vẫn còn 12.504 người mù chữ, trong đó có 10.877 người là người dân tộc thiểu số, ở Yên Bái còn 9.431 người mù chữa, trong đó có 7.999 người là dân tộc thiểu số, ở Thái Nguyên còn 3.645 người mù chữ trong đó có 3.208 người thuộc các dân tộc thiểu số, ở Sơn La còn 43.9000 người mù chữ, trong đó có 41.000 người là người dân tộc thiểu số. 

Trong giai đoạn hiện nay, để phát triển giáo dục - đào tạo, nâng cao trình độ dân trí nhằm cung ứng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, khai thác những yếu tố thuận lợi, những tiềm năng, thế mạnh của địa phương, theo chúng tôi, các tỉnh miền núi phía Bắc cần tập trung vào một số giải pháp lớn sau:

Một là, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của chính quyền địa phương đối với công tác phát triển giáo dục - đào tạo. Tổ chức, phổ biến quán triệt đầy đủ kịp thời các chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước về giáo dục - đào tạo cho đội ngũ lãnh đạo, quản lý các cấp nhất là ở cơ sở.

Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, các sinh hoạt cộng đồng, các thiết chế cơ sở như làng bản, gia đình, dòng họ… để tuyên truyền về tầm quan trọng của giáo dục - đào tạo tới bà con nhân dân, vận động đồng bào quan tâm chăm lo tới việc học tập của con em mình.

Hai là, mở nhiều hình thức đào tạo giáo viên ở tại địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu về số lượng cho các địa phương vùng sâu, vùng xa. Xác định chuẩn giáo viên một cách linh hoạt, cho từng vùng, địa bàn cụ thể. Tăng thêm kinh phí hỗ trợ, có chính sách về khen thưởng, chế độ nhà ở, nghỉ dưỡng… cho giáo viên vùng sâu, vùng xa. Thực hiện luân chuyển giáo viên hợp lý. Thực hiện đúng các chính sách đối với những giáo viên một cách nghiêm túc, công khai, dân chủ để thực hiện đào tạo lại đối với những giáo viên có trình độ dưới chuẩn đang trong độ tuổi công tác.

Ba là, ngoài nguồn kinh phí của Nhà nước, các địa phương cần chủ động tìm kiếm các nguồn vốn từ các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị xã hội trên địa bàn và cả trong dân để đầu tư xây dựng và sửa sang hệ thống trường, lớp, mua sắm trang thiết bị dạy học, xoá tình trạng phòng học bằng tranh, tre, nứa, lá, giảm dần tình trình dạy “chay”, học “chay”. Việc đầu tư xây mới trường học cần căn cứ vào địa hình, số lượng trẻ đi học trong dân cư nhằm đảm bảo tỷ lệ trường, lớp hợp lý và thuận tiện cho việc học tập của các em. Nhân rộng mô hình trường dân tộc nội trú và trường bán trú dân nuôi tới từng thôn, bản nhằm giảm bớt chi phí cho địa phương.

Bốn là, để nâng cao chất lượng học tập của con em đồng bào các dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, cần thực hiện việc biên soạn giáo trình song ngữ và giảng dạy bằng cả tiếng Kinh và tiếng dân tộc để giúp các em hiểu và tiếp thu kiến thức một cách dễ dàng. Đổi mới nội dung giảng dạy trong các trường phổ thông dân tộc nội trú cho phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá … của từng dân tộc và mục tiêu phát triển dân tộc đó của Đảng và Nhà nước. Ngoài ra, các địa phương cần phối hợp với ngành giáo dục vận động trẻ đến trường, chủ động liên hệ với các địa phương có điều kiện hơn như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định… để tận dụng nguồn sách giáo khoa, đồ dùng học tập nhằm giảm chi phí đầu tư cho giáo dục của địa phương, phát huy truyền thống tương thân, tương ái trong các trường học.

Công tác phát triển giáo dục - đào tạo các tỉnh miền núi phía Bắc hiện còn nhiều khó khăn, ngoài những chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật và kinh phí của Nhà nước, việc giải quyết vấn đề này đòi hỏi phải có sự nỗ lực của nhiều cấp, nhiều ngành, của toàn xã hội, đặc biệt, công tác xã hội hoá giáo dục cần được đặt lên hàng đầu để sự nghiệp trồng người đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước.

Phạm Thị Hoàng Hà
(Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh)

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,917,770


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.3 secs