Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 21/07/2005
Đồng bằng Nam Bộ - Nơi hội tụ văn hoá của nhiều dân tộc cần được quan tâm nghiên cứu

Đồng bằng Nam Bộ hay còn gọi là Đồng bằng sông Cửu Long là một vùng dân cư – dân tộc quan trọng của cả nước, vùng sản xuất lúa và nông sản nổi tiếng ở Đông Nam á. “Đồng bằng sông Cửu Long” tên gọi này đã được sử dụng từ rất lâu trong các tài liệu khoa học và văn kiện từ sau thế chiến lần thứ hai. Đồng bằng sông Cửu Long ở nước ta là trung tâm sản xuất lúa gạo ở hạ lưu sông Mêkông thuộc đất đai miền Tây Nam Bộ.
Trước thế kỷ XIX, đồng bằng Nam Bộ thường được gọi chung là đất “Ngũ trấn”, “vùng Đồng Nai – Gia Định”, “Nam kỳ lục tỉnh”. Trong dân gian, đồng bằng sông Cửu Long thường được gọi là đất “Cửu Long” theo truyền thuyết của 9 con rồng phun nước, “miệt vườn”, “vùng đất mới”, “các tỉnh miền Tây”.

Khu vực địa lý Nam Bộ đồng thời cũng là vùng văn hoá gồm hai vùng rõ rệt: miền Đông Nam Bộ và miền Tây Nam Bộ. Miền Tây Nam Bộ chiếm toàn bộ lưu vực sông Cửu Long hiện nay, gồm 13 tỉnh: An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ, Kiên Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Long An, Sóc Trăng, Tiền Giang, Hậu Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long. Miền Đông Nam Bộ nằm trên lưu vực sông Đồng Nai, gồm các tỉnh: Tây Ninh, Sông Bé, Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu và Côn Đảo.

Đồng bằng Nam Bộ là vùng cư trú của nhiều thành phần dân tộc có nguồn gốc địa phương khác nhau được tụ họp về đây. Đây là vùng đất có nhiều tôn giáo và các hình thức tín ngưỡng tồn tại trong nhân dân, là vùng hội tụ dân cư do những cuộc di dân lớn diễn ra hàng thế kỷ tạo nên, vốn có nhiều hệ thống tập quán, phong tục khác nhau kết tinh thành truyền thống văn hoá chung có đặc tính riêng trong văn hoá Việt Nam. Nhiều thế kỷ qua, do những biến cố lớn về mặt kinh tế và xã hội, sự quy tụ dân cư vùng này đã diễn ra một cách thường xuyên, đó là đặc điểm biến động dân cư ở đồng bằng Nam Bộ. Nhiều lớp dân cư đã từ đồng bằng Bắc Bộ, từ các tỉnh duyên hải miền Trung đến lập làng xóm, khai thác đất đai, phát triển nông nghiệp, chủ yếu là xây dựng nên những cánh đồng lúa. Cũng từ đồng bằng sông Cửu Long đã có những lớp cư dân khuếch tán, họ từ những làng xóm của vùng đồng lúa ra đi đến sinh sống ở những vùng đô thị, trước hết là vùng đô thị Sài Gòn – Chợ Lớn, miền đồi núi, Đông Nam Bộ… Khi đến nơi cư trú mới và định cư lâu dài ở những nơi nói trên, người nông dân đồng bằng Nam Bộ đã trở thành thị dân với những ngành nghề khác nhau, với những đặc tính tâm lý, tình cảm và sinh hoạt riêng. Mối quan hệ lịch sử và truyền thống chung của Nam Bộ đã làm cho vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng đô thị thành phố Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ tồn tại những đặc thù riêng của khu vực dân cư lớn ở miền Nam nước ta.

Trong lịch sử và hiện tại đồng bằng Nam Bộ là vùng cư trú của nhiều dân tộc. Đó là nơi sinh sống của nhiều lớp cư dân người Việt, người Khmer, người Hoa và người Chăm theo đạo Islam. Trước thế kỷ XVII, người Khmer và văn hoá Khmer có vai trò chủ thể ở vùng này. Từ thế kỷ XVIII trở về sau, người Hoa và văn hoá Hoa có ảnh hưởng lớn đến một số địa phương, nhất là những vùng ven biển. Cư dân người Việt và văn hoá người Việt đã thực sự trở thành nền tảng căn bản của toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long từ đầu thế kỷ XVIII cho đến tận ngày nay. Sự giao tiếp giữa các tộc người và sự tiếp cận giữa những hệ thống văn hoá khác nhau ở đây đã tạo nên những giao hoán về văn hoá và tiếng nói. Hiện tượng song ngữ và đa ngữ, song văn hoá và đa văn hoá trong cùng một tộc người địa phương vẫn còn đang tồn tại trong hiện thực sinh động hiện nay.
Đồng bằng Nam Bộ nơi hội tụ văn hoá các dân tộc và tôn giáo tín ngưỡng.

Làng xã nơi này trải dài theo sông rạch; đối với người Khmer phum sóc (tức làng xóm) được bố trí chặt chẽ, tập trung theo dòng họ, quy tụ chung quanh ngôi chùa Phật giáo theo hệ Tiểu thừa (Hinayana). Những đơn vị làng xóm của người Chăm như Puk, Palay, Nagara tập trung các gia đình theo mật độ chật hẹp hơn và gắn liền với khu vực thánh đường Hồi giáo. Những làng người Hoa phần lớn có nguồn gốc từ vùng đất Triều Châu (thuộc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc) thường sống xen kẽ hoặc kế cận với thôn xóm người Việt, nhiều nơi sống xen kẽ với người Khmer. Ngôi chùa thờ ông Bổn (Bổn đầu công Trịnh Hoà - nhà hàng hải người Quảng Đông đi về các vùng Đông Nam á trong thế kỷ XVI) hay một đền thờ Phật Bà Quan Âm là những dấu hiệu cư trú của người Hoa. Ngoài những cơ chế và tổ chức xã hội chung, mỗi cộng đồng dân cư – dân tộc có những kiểu tổ chức xã hội và cơ chế quản lý riêng được tồn tại theo phong tục tập quán trong đời sống thường ngày.
Đồng bằng Nam Bộ là nơi tồn tại nhiều tôn giáo nhất ở nước ta: Thiên Chúa giáo, Phật giáo Tiểu Thừa và Đại Thừa, Islam giáo, Tin lành là những tôn giáo phổ biến trên thế giới, trong đó nước ta có khoảng 8 triệu tín đồ theo số liệu gần đây nhất. Vùng này còn là nơi xuất phát của các tôn giáo địa phương mà chỉ tồn tại và phổ biến ở Nam Bộ như đạo Hoà Hảo, đạo Cao Đài, Từ Ân Hiếu Nghĩa và nhiều hình thức tín ngưỡng khác như đạo Dừa, đạo Ngồi, đạo Nằm, đạo Câm… cho đến nay người ta chỉ thấy có ở nông thôn vùng đồng bằng sông Cửu Long. Thờ cúng Niêk tà, sùng bái Arăk, ngưỡng vọng các vị nhân thần như Trần Hưng Đạo, Bà Chúa Xứ, Bổn đầu công và các tướng lĩnh triều Nguyễn cũng đã trở thành một phong tục trong dân gian của cư dân Nam Bộ có từ lâu.

Ở nước ta có khoảng 8 triệu người là tín đồ của những tôn giáo phổ biến trên, riêng ở đồng bằng sông Cửu Long số tín đồ đã chiếm hơn 1/3. Tỉnh An Giang năm 1984 với chừng 1 triệu 600 nghìn nhân khẩu, trong số dân tín đồ Hoà Hảo chiếm tỷ lệ 78%, số người theo đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa là 10% số còn lại là những người theo đạo Phật (5%), đạo Thiên Chúa (3%), đạo Islam và các tín ngưỡng khác trong dân gian. Có thể nói An Giang là một tỉnh mà tư tưởng hữu thần và sự sùng bái thần linh chiếm một vị trí lớn trong đời sống xã hội và gia đình. Nhiều huyện ở đồng bằng Nam Bộ dân số tín đồ các tôn giáo trở thành số đông tuyệt đối trong thành phần dân cư nông thôn. ở tỉnh Bến Tre, Tiền Giang, Đồng Tháp, có nhiều huyện và nhiều xã trọng điểm của nông nghiệp mà ở đây, số tín đồ các tôn giáo chiếm tỷ lệ số dân đông tuyệt đối. Khoảng 80 vạn người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long về cơ bản đều là những tín đồ của Phật giáo Tiểu thừa và họ có quan hệ về giáo phái với các tổ chức Phật giáo ở Campuchia và Thái Lan trước đây. Hơn 1 vạn người Chăm ở Châu Đốc đều là tín đồ của đạo Islam và họ có quan hệ về tôn giáo với nhiều nước ở khu vực Đông Nam á… Do đó, ở đồng bằng Nam Bộ, vấn đề tôn giáo và dân tộc đã trở thành một đặc thù mà các vùng khác ở nước ta không có được.

Đồng bằng Nam Bộ là vùng dân cư có truyền thống lịch sử về văn hoá. Truyền thống lịch sử và giá trị văn hoá không chỉ phụ thuộc duy nhất vào bề dày thời gian của lịch sử mà chủ yếu là do sự sáng tạo của con người tạo nên. Cho đến nay, việc nghiên cứu những truyền thống lịch sử và những giá trị văn hoá của vùng đồng bằng Nam Bộ vẫn còn ở mức khiêm tốn và còn nhiều điều chưa đầy đủ. Những chiếc phảng với nhiều loại hình khác nhau, những chiếc cù nèo, trục lăn đất, chiếc nóp, xuồng ba lá va tam bản, nhà nọc ngựa lợp lá dừa nước… là những sáng tạo về văn hoá vật chất nhằm thích nghi với vùng môi sinh, chỉ thấy có ở đồng bằng sông Cửu Long. Nếu đi sâu vào tìm hiểu phong tục tập quán của địa phương, chúng ta sẽ gặp nhiều dấu vết sâu đậm của phong tục và tập quán của cư dân miền Trung và miền Bắc xa xưa mà chúng những nơi ấy không còn nữa. Truyền thống văn hoá dân gian đồng bằng sông Cửu Long có nhiều loại hình rất đa dạng, trước hết là những loại hình sân khấu, âm nhạc, múa, điêu khắc, thơ ca và chuyện kể của nông dân người Việt, người Khơ’me, người Chăm. Những làn điệu vọng cổ xuất xứ từ đất Bạc Liêu cũ biểu hiện điển hình điệu thức Nam Bộ của dân gian, trong đó có sự giao tiếp với những làn điệu dân ca Khơme và những âm hưởng của những điệu hát Tiều, hát Quảng của người Hoa. Tiếng nói của người Việt ở đồng bằng sông Cửu Long là phương ngữ lớn với nhiều từ cổ còn được lưu tồn; tiếng Khmer bao gồm ba vùng thổ ngữ địa phương của tiếng Khmer Nam Bộ; tiếng Chăm là phương ngôn riêng của người Chăm ở Việt Nam. Đồng bằng Nam Bộ còn có chữ Nôm Nam Bộ, có cả nền thơ ca bác học nổi tiếng như thơ ca của nhóm Chiêu Anh Các, thơ ca của những ngôi sao sáng trời Nam như Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Hữu Huân, Phan Văn Trị, Nguyễn Thông và nổi bật hơn cả là thơ ca của Nguyễn Đình Chiểu.

Tổng thể về mối quan hệ đặc thù.

Đồng bằng Nam Bộ là một trong những nơi diễn ra nhiều cuộc đấu tranh giữa nông dân với địa chủ và chế độ thực dân. Trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước hình thành những vùng dân cư do địch kiểm soát, vùng tự do của cách mạng và vùng du kích tranh chấp kề sát nhau hoặc cài vào nhau trên những địa bàn rất hẹp. Cho đến nay sự tích anh hùng và những sáng tạo của nhân dân vùng đồng bằng này trong ngót nửa thế kỷ đấu tranh cách mạng cũng chưa được nghiên cứu và sưu tầm đầy đủ.

Những đặc trưng về dân cư, tôn giáo, văn hoá, kết cấu kinh tế và tổ chức xã hội, lịch sử đấu tranh, đã chứng minh đồng bằng Nam Bộ là tổng thể của những mối quan hệ đặc thù xuất hiện, tồn tại và phát triển theo quy luật của lịch sử. Đồng bằng Nam Bộ là đối tượng nghiên cứu đối với khoa học xã hội, trước hết là đối với văn học nghệ thuật các dân tộc cần được nghiên cứu sâu sắc đặc tính và quy luật của vùng nhằm hiểu rõ thực trạng và điểm xuất phát thực tế của địa phương trong quá trình vận hành bước vào thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá trong phạm vi cả nước. Nắm vững đặc tính và quy luật của vùng trên quan điểm phát triển chung toàn quốc và xuất phát từ quyền lợi chung của các dân tộc là một vấn đề rất quan trọng có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc đề ra những chính sách kinh tế – xã hội cho trước mắt và cho quy hoạch phát triển của tương lai.
Vùng đồng bằng Nam Bộ có nhiều thành phần cư dân với nhiều bản sắc văn hoá của các tộc người: Khmer, Hoa, Chăm, Việt… được tạo dựng hàng thế kỷ. Vốn văn hoá nghệ thuật của cư dân vùng này đã được các cấp các ngành nghiên cứu sưu tầm từ nhiều góc độ. Song với tiềm năng và bề dày của lịch sử nền văn hoá vùng này vẫn còn tiềm ẩn nhiều vốn quý từ văn học, văn học dân gian các dân tộc: Khmer, Chăm, Hoa, Việt và những năm gần đây còn có cả các tộc người: Tày, Nùng, Mông, Dao… với các loại hình nghệ thuật: múa, hoạ, ca, đàn, trống, sáo, văn học, sử… cần được quan tâm như một chuẩn mực ứng xử.

Sự cần thiết phát triển đội ngũ cán bộ khoa học, các nhà quản lý và văn nghệ sĩ vùng đồng bằng Nam Bộ trong giai đoạn mới hiện nay là phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Việc kiểm kê đánh giá lại những giá trị văn hoá truyền thống của các dân tộc do họ sáng tạo ra là vốn quý của nhân loại. Đó là sự biểu hiện coi trọng phát huy vốn văn hoá cổ truyền của các dân tộc gắn liền với chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Muốn làm được việc này phải có con người, những người có đủ tri thức và tâm huyết với dân tộc không chỉ về mặt lý luận, mà còn có cả tinh thần, sự hiểu biết các tri thức truyền thống, những tình cảm, thuần phong mỹ tục, văn hoá nghệ thuật, môi trường văn hoá… để khơi dậy lòng tự hào dân tộc làm động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá và hiện đại hoá hiện nay.

Mỗi con người, mỗi dân tộc cần phải hiểu rõ, hiểu thấu đáo bản sắc văn hoá của dân tộc mình. Nếu không làm được điều đó thì làm sao hiểu được bản sắc văn hoá của các dân tộc anh em khác; vấn đề là phải nghiên cứu. Xưa nay, một số người cứ đơn giản hoá, cứ là người Kinh, người Tày, người Thái, hoặc người Êđê, Ba Na, Khmer, Chăm… là nghiễm nhiên hiểu được bản sắc văn hoá của dân tộc mình. Hễ cứ thấy người Chăm, người Khơme trình diễn một vài điệu múa nào đó thì lập tức điệu múa đó được xem như phản ánh bản sắc văn hoá dân tộc Chăm, dân tộc Khmer. Đối với dân tộc này được cài hoa lên đầu là biểu hiện của lòng kính trọng, nhưng đối với dân tộc khác việc cài hoa lên đầu lại cảm thấy mình bị xúc phạm, vì bị tay người khác sờ lên đầu. Cũng như vậy, một số dân tộc coi áo váy trắng là dấu hiệu của sự quý phái, trang trọng, nhưng không phải vì thế mà cứ khoác bừa lên cho các dân tộc khác, làm cho họ ghê sợ, vì họ cho đó là màu tang ma cho những người chết “Bất đắc kỳ tử”. Có thể xuất phát từ lòng tốt nhưng do sự hiểu biết có hạn nên đã làm cho hiệu quả ngược lại. Nhiều vấn đề tế nhị bởi do không có sự tìm hiểu kỹ, nên đã có nơi, có lúc có những sự hiểu lầm nên chưa tìm được tiếng nói chung.

TS. Lò Giàng Páo

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,912,929


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs