Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Qúy Sơn: Xã văn hóa đầu tiên của tỉnh Bắc Giang

 23/06/2005

Trang trại trồng cây vải thiều ở huyện Lục Ngạn

        Xã miền núi Quý Sơn, huyện Lục Ngạn vừa đón danh hiệu “Xã văn hoá” đầu tiên của tỉnh Bắc Giang. Xã có hơn 27 thôn bản thì 22 thôn là Làng văn hoá, trong đó 6 Làng văn hoá cấp tỉnh và 16 Làng văn hoá cấp huyện.

Xã Quý Sơn có tổng diện tích đất tự nhiên 4009 ha, chủ yếu là đất đồi núi, diện tích đất canh tác là đồi thấp và ruộng bậc thang với dân số khoảng 15.000 người của 6 dân tộc anh em là Kinh, Tày, Nùng, Hoa, Sán Dìu và Sán Chí cùng sinh sống, trong đó đồng bào các dân tộc thiểu số chiếm 52% dân số của xã. Trước kia, vùng đất đồi của Quý Sơn chủ yếu trồng bạch đàn, sắn, mía, dứa nhưng hiệu quả kinh tế thấp. Năm 1989, thực hiện chủ trương chung của huyện Lục Ngạn, mỗi đảng viên trong xã đã trồng từ 3-4 cây vải thiều. Cây vải thích hợp với đất đồi Lục Ngạn, và thu hoạch từ cây vải thiều đã làm cho đời sống của đồng bào dần được cải thiện.

Nhận thức rõ ý nghĩa của phong trào xây dựng Làng văn hoá, từ năm 1994 xã đã phát động phong trào, bắt đầu từ thôn Tư Một và thôn Lai Hoà, sau mở rộng ra các thôn khác. Một trong những tiêu chí của Làng văn hoá là phát triển đời sống  kinh tế. Để phát triển kinh tế, bà con nông dân đã thực hiện chuyển đổi cây trồng, chủ yếu là chuyển diện tích đất đồi trồng bạch đàn và sắn sang trồng vải thiều và xen kẽ các loại cây ăn quả khác như hồng không hạt, na, táo; đưa các giống lúa mới cho năng suất, chất lượng cao vào sản xuất và phát triển chăn nuôi lợn, gà. Các hộ đều được giao đất theo chủ trương giao đất đồi rừng của UBND tỉnh và ngay từ những năm 1997-1998, đồng bào ở nhiều thôn đã tự dồn đổi đất cho nhau để thuận lợi trong canh tác, mở rộng quy mô sản xuất vườn đồi. Cây vải thiều đã mang lại hiệu quả  kinh tế rõ rệt nên diện tích trồng vải thiểu của xã tăng lên nhanh chóng, đến năm 2000 đã có trên 1000 ha và đến nay là 1714 ha. Hiện nay, bình quân mỗi hộ có khoảng 0,3 ha trồng vải thiều; nhiều hộ có tới 3-4 ha, mỗi năm thu nhập hàng trăm triệu đồng. Riêng năm 2004 doanh thu từ vải thiều của toàn xã ước đạt 24 tỷ đồng. Bên cạnh đó, các giống lúa mới như Nhị ưu, lai hai dòng… đưa vào sản xuất đã nâng cao năng suất lúa của xã hiện lên 5,4 tấn/ha/vụ. Cũng từ năm 2004, xã đã vận động bà con phát triển chăn nuôi bò thịt theo phương thức bán chăn thả kết hợp với trồng cỏ voi nuôi bò để bù đắp sự tụt giảm thu nhập do giá vải thiều xuống thấp và đến nay toàn xã đã có đàn bò 300 con (chủ yếu lai Sind) và trồng được 2 ha cỏ voi. Ngoài ra, xã đã tận dụng được 100 ha mặt nước hồ, đập để thả cá, tăng thu nhập cho nông dân…

Những kết quả tích cực trong phát triển kinh tế đã tạo cơ sở thuận lợi để các thôn vận động đồng bào thực hiện các tiêu chí khác của Làng văn hoá. Từ năm 1999, thực hiện đề án của huyện về xây dựng Huyện văn hoá thì các quy ước Làng văn hoá của các thôn được xây dựng theo mẫu thống nhất nhưng vẫn đảm bảo duy trì và phát huy những phong tục, tập quán tốt đẹp của mỗi dân tộc, bài trừ các hủ tục và hằng năm được chỉnh sửa cho phù hợp với yêu cầu thực tế phát triển  kinh tế - xã hội của địa phương. Quy ước Làng văn hoá của các thôn gần giống nhau như các quy định về ma chay, cưới xin, quan hệ trong mỗi gia đình, quan hệ trong cộng đồng thôn bản, việc đóng góp với cộng đồng làm công việc chung… Thông qua các hoạt động sản xuất và các sinh hoạt cộng đồng hằng ngày, bà con các dân tộc trong xã ngày càng hiểu nhau hơn, gắn bó với nhau và sống hoà đồng giữa các dân tộc mà vẫn giữ được những nét đẹp văn hoá riêng của mỗi dân tộc như về trang phục, văn hoá ẩm thực. Nhiều gia đình có nhiều thế hệ gồm cha, mẹ, con dâu, con rể thuộc các dân tộc khác nhau mà vẫn chung sống hoà thuận như gia đình Chủ tịch UBND xã Hỷ Văn Lỳ có 4 dân tộc là Hoa, Kinh, Nùng và Sán Dìu.

Kết quả của phong trào xây dựng Làng văn hoá đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi của xã Quý Sơn. Từ một xã nghèo đến nay đã có cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm) khang trang; số hộ nghèo giảm nhanh, số hộ khá và giàu ngày càng tăng. Xã đã huy động các nguồn vốn trải nhựa được 14,5km đường trục xã, trải cấp phối 13,5km đường trục xã và 30km đường liên thôn; xây dựng 4 trường học (2 trường tiểu học, 1 trường Trung học cơ sở và 1 trường mẫu giáo) gồm 7 khu nhà cao tầng với 54 phòng học kiên cố, các phòng hiệu bộ và nhiều phòng ở cho giáo viên, 18 lớp mẫu giáo ở các thôn bản. Hai trường tiểu học của xã đã được công nhận đạt chuẩn quốc gia. Năm 2004, xã đã phổ cập Trung học cơ sở. Trạm y tế của xã được xây dựng kiên cố với 6 cán bộ, trong đó có 1 bác sĩ; các thôn bản đều có y tá. Toàn xã có trên 90% số hộ có đủ 3 công trình hợp vệ sinh và tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn 25% (thấp hơn bình quân chung của cả tỉnh). Xã và tất cả các thôn đều có nhà văn hoá (trong đó có 9 nhà văn hoá thôn đạt tiêu chí chung) và mỗi thôn đều có một đội văn nghệ. Từ năm 2000, xã không còn hộ đói và đến năm 2004, số hộ nghèo chỉ còn 1,43%, số hộ giàu chiếm 33,1%, số hộ khá và trung bình chiếm 65,47%, thu nhập bình quân đầu người đạt 5,5 triệu đồng/năm.

Năm 2005, xã Quý Sơn phấn đấu giữ vững danh hiệu Xã văn hoá và tất cả 27 thôn trong xã đều được công nhận là Làng văn hoá, trong đó có thêm 3 làng văn hoá cấp tỉnh để đưa số Làng văn hoá cấp tỉnh của xã lên 9 làng.

Như Kính

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Nơi trồng cây thuốc phiện đã trở thành điểm sáng văn hóa (06/2005)
  •  
  • Những tri thức trẻ dân tộc thiểu số gắn bó với buôn làng (06/2005)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 61,901,048


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.3 secs