Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở Kon Tum

 23/06/2005

Công trình thủy lợi Ba Tri thuộc vùng đồng bào dân tộc Ba Na ở huyện Đăck Hà, tỉnh Kon Tum

                                                                                                                        Lê Trọng Vinh
 
                                                                                                                         (Bộ Nội vụ)

Tin vào dân, dựa vào dân, gắn bó chặt chẽ với nhân dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân là bài học được rút ra từ thực tiễn hơn 70 năm hoạt động của Đảng. Sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ gắn bó chặt chẽ với nhân dân. Nhận thức được quan điểm nêu trên, Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân tỉnh Kon Tum đã chú trọng và thực sự xem việc triển khai thực hiện Quy chế dân chủ là một nhiệm vụ quan trọng không thể tách rời trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ, từ đó đã ban hành nhiều quyết định, chỉ thị, kế hoạch để triển khai thực hiện Quy chế dân chủ.

Là tỉnh miền núi, vùng cao nằm ở phía Bắc Tây Nguyên, Kon Tum có đường biên giới giáp với hai nước bạn Lào và Cămpuchia. Trước năm 2000, hệ thống giao thông đi lại rất khó khăn, điều kiện thông tin liên lạc chưa được phát triển. ở những xã vùng sâu, vùng xa đời sống phần lớn đồng bào các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí có phát triển nhưng còn chậm và không đồng đều. Các vùng thị xã, thị trấn so với vùng nông thôn, miền núi còn chênh lệch lớn. Sau hơn 4 năm triển khai thực hiện quy chế dân chủ, ngoài công tác giám sát kiểm tra để nâng cao chất lượng các công trình, nhân dân còn tham gia đóng góp một phần đáng kể sức người, sức của cùng với Nhà nước xây dựng cơ sở hạ tầng tại địa phương. Kết quả, đến nay 100% các xã đều có hệ thống giao thông đường bộ liên xã, liên huyện được kết nối với hệ thống giao thông đường bộ liên tỉnh đi lại thuận tiện, 90% số thôn bản có đường ô tô đến tận thôn, buôn; hàng ngàn giếng nước sạch, nhà trẻ, nhà văn hoá... được xây dựng góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các dân tộc trong tỉnh.

Sở dĩ đảng bộ, chính quyền, đoàn thể và nhân dân tỉnh Kon Tum trong xây dựng cơ sở hạ tầng đạt được những kết quả trên, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm đó là:

- Các cấp uỷ Đảng nhận thức đúng, thực sự quan tâm, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo; thường xuyên kiểm tra và bám sát cơ sở, giải quyết kịp thời những vướng mắc, khó khăn và những vấn đề mới nảy sinh trong xây dựng cơ sở hạ tầng; gắn nội dung của qui chế dân chủ cơ sở vào quá trình triển khai, xây dựng cơ sở hạ tầng của địa phương .

Đảng bộ các huyện đã có Nghị quyết quy định việc thực hiện Quy chế dân chủ trong xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở cơ sở và xác định đó là một trong những nội dung trọng tâm trong công tác xây dựng Đảng; chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở phải tăng cường công tác kiểm tra rút kinh nghiệm; phát hiện, chấn chỉnh kịp thời và có biện pháp xử lý nghiêm khắc đối với cán bộ đảng viên vi phạm quyền làm chủ của nhân dân. Một số huyện Đắc Tô, Kon Rẫy... Thường vụ huyện uỷ đã ban hành Nghị quyết riêng về việc huy động cán bộ đảng viên và nhân dân tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở xã, phường, thị trấn và thôn, buôn; lấy ngày 10/10 hàng năm làm ngày toàn dân xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

- Chính quyền huyện và xã coi việc tổ chức xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở xã, phường, thị trấn và thôn, buôn là một giải pháp cơ bản trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; gắn việc phân cấp quản lý và việc công khai những nội dung đã quy định trong các Nghị định của Chính phủ cho cấp dưới và cho cán bộ công chức và người lao động được biết, được bàn, được giám sát kiểm tra... Mở rộng mối quan hệ và sự phối hợp chặt chẽ với Mặt trận, đoàn thể cùng cấp, cung cấp đầy đủ và kịp thời những tài liệu cần thiết để tuyên truyền, vận động và hướng dẫn nhân dân thực hiện. Hầu hết Uỷ ban nhân dân các huyện đều có kế hoạch triển khai thực hiện phong trào toàn dân tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng, giao chỉ tiêu thi đua cho các phòng chuyên môn của huyện đỡ đầu, chịu trách nhiệm với từng tuyến đường, từng công trình cụ thể đến từng buôn, làng; huy động cán bộ, công chức của huyện đóng góp 2 ngày công để có kinh phí mua xi măng, cát sỏi... xây dựng các công trình... Uỷ ban nhân dân cấp huyện thành lập Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở hạ tầng cơ sở, giao cho từng phòng, ban, các tổ chức sự nghiệp, doanh nghiệp hỗ trợ, đỡ đầu và phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm từng tuyến đường, từng nhà văn hoá thôn, từng nhà trẻ... hàng tháng Uỷ ban nhân dân huyện đi kiểm tra, đôn đốc và giải quyết các vấn đề vướng mắc ở các công trình cụ thể.

Uỷ ban nhân dân cấp xã đã trực tiếp chỉ đạo, điều hành từ việc lập kế hoạch, thành lập các ban quản lý công trình đến việc tổ chức triển khai thực hiện. Sau khi kế hoạch xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật của xã được Hội đồng nhân dân thông qua, Uỷ ban nhân dân đã phối hợp với Mặt trận tổ quốc, bàn bạc với trưởng thôn để quyết định thành lập các Ban, như: Ban tài chính, Ban tổ chức thi công, Ban giám sát... Nhân sự các Ban thường bố trí trưởng thôn làm trưởng ban, các thành viên do cộng đồng dân cư cử.

- Công tác tuyên truyền vận động của các đoàn thể quần chúng được tiến hành thường xuyên, đều khắp. Nội dung tuyên truyền cụ thể và phù hợp với đối tượng, với từng vùng khu vực; tăng cường tuyên truyền trên hệ thống thông tin đại chúng và coi trọng hình thức tuyên truyền miệng. Trong tuyên truyền đặc biệt coi trọng việc làm cho người dân hiểu rõ giữa quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, giữa quyền lợi của cá nhân và quyền lợi chung của cộng đồng, từ đó người dân ý thức được nghĩa vụ của mình đối với xã hội và đối với bản thân, với gia đình.

- Phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn dân và tinh thần tự lực tự cường, tham gia xây dựng công trình hạ tầng cơ sở. Năm 2000 đã huy động được 20 tỷ 400 triệu đồng để làm mới 217,9km đường giao thông nông thôn và đô thị, 69,6km đường điện, 34 phòng học, 7 trạm y tế, 12 nhà văn hoá, 18 nhà trẻ và lớp mẫu giáo. Trong đó nhân dân đóng góp 70 triệu đồng xây dựng 1 nhà văn hoá thanh thiếu niên, 10 triệu đồng xây dựng chợ, 5 triệu đồng xây dựng nhà rông, đóng góp quỹ xoá đói giảm nghèo và quỹ quốc phòng với trên 147 triệu đồng. Ngoài ra, nhân dân đã đóng góp ngày công cùng với Nhà nước xây dựng 645 giếng nước, kiên cố hoá 3 công trình thuỷ lợi, 6 công trình nước tự chảy, 7 trạm biến áp, xây dựng mới trên 30 phòng học ở xã và trung tâm cụm xã.

Năm 2001 ngân sách Nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng 85 tỷ 230 triệu đồng, nhân dân đóng góp 15 tỷ 050 triệu đồng; năm 2003 ngân sách Nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng 144 tỷ 264 triệu đồng, nhân dân đóng góp 19 tỷ 560 triệu đồng; năm 2004 ngân sách Nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng 273 tỷ 290 triệu đồng, nhân dân đóng góp 9 tỷ đồng và hàng vạn ngày công lao động cho xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở ở thôn, làng, bản. Người dân được hưởng lợi từ các công trình nên mọi người đều phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý điều hành của chính quyền địa phương.

Kết quả nổi bật nhất là thông qua việc thực hiện quy chế dân chủ trong xây dựng và phát triển hạ tầng cơ sở ở nông thôn đã tạo ra bầu không khí dân chủ, cởi mở, gần gũi, thông cảm giữa dân với Đảng và chính quyền, với cán bộ công chức, củng cố niềm tin của nhân dân với chính quyền Nhà nước; bước đầu ngăn chặn có hiệu quả tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, cửa quyền của cán bộ chính quyền Nhà nước ở cơ sở, góp phần giữ vững đoàn kết nội bộ, hạn chế phát sinh điểm nóng, xây dựng chính quyền trong sạch, tăng cường tình đoàn kết trong nội bộ nhân dân, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội.

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Qúy Sơn: Xã văn hóa đầu tiên của tỉnh Bắc Giang (06/2005)
  •  
  • Nơi trồng cây thuốc phiện đã trở thành điểm sáng văn hóa (06/2005)
  •  
  • Những tri thức trẻ dân tộc thiểu số gắn bó với buôn làng (06/2005)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 61,901,123


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.3 secs