Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 20/06/2005
Nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng đất ở các tỉnh Tây Nguyên
       Vùng Tây Nguyên gồm 4 tỉnh: Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum và Lâm Đồng, tổng diện tích tự nhiên là 5.447.450 ha, chiếm 16,55% diện tích tự nhiên của cả nước. Tây Nguyên là vùng lãnh thổ rộng lớn, có vị trí chiến lược hết sức quan trọng về kinh tế, chính trị và an ninh quốc phòng.

       Đất của Tây Nguyên có 14 loại chính, diện tích lớn nhất là đất xám 2,87 triệu ha (chiếm 52,8% diện tích của vùng); đất đỏ Bazan có 1,36 triệu ha (chiếm 25% diện tích cả vùng). Đây là loại đất màu mỡ thích hợp với nhiều loại cây trồng có giá trị cao như cà phê, cao su, điều, dâu tằm, rau, hoa quả… Diện tích các loại đất tốt, thích hợp cho phát triển cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả khoảng 730.000 ha, tập trung chủ yếu ở các cao nguyên Buôn Ma Thuột, ĐắkNông, PleiKu, Kon Hà Nừng, Di Linh, Đức Trọng… Đất đỏ vàng trên đá Mắcma Axít, chiếm khoảng 1,8 triệu ha, tuy kém phì nhiêu hơn đất đỏ bazan nhưng tơi xốp, giữ ẩm tốt, thích hợp với nhiều loại cây trồng. Đất phù sa sông suối ở các vùng trũng phù hợp với cây lương thực, thực phẩm, một số nơi có khả năng phát triển thành các vùng chuyên canh cây lương thực.

Với vị trí chiến lược, ưu thế về đất đai và tài nguyên, Tây Nguyên sẽ là một vùng giàu về kinh tế, vững mạnh về an ninh, quốc phòng và trở thành vùng kinh tế động lực của cả nước.

Để đạt được vấn đề đó, cần có chiến lược khai thác, sử dụng đất hợp lý, hiệu quả và bền vững, gắn với thị trường có sức cạnh tranh cao đối với các cây công nghiệp xuất khẩu mà trước hết là phải làm tốt công tác quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất.

Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2001-2005 của các tỉnh Tây Nguyên đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (Kon Tum tháng 6/2002; Gia Lai tháng 11/2001, Lâm Đồng tháng 12/2001, Đắc Lắc tháng 11/2001). Tuy nhiên quy hoạch mới là định hướng, việc rà soát và điều chỉnh, bổ sung quy hoạch cho phù hợp với thực tiễn của quá trình phát triển kinh tế - xã hội của vùng và của từng tỉnh là rất cần thiết và rất quan trọng. Do vậy các tỉnh phải tiếp tục chỉ đạo công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp huyện và cấp xã, tổ chức thẩm định, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch (hiện tại mới được 40% số huyện và xã lập quy hoạch sử dụng đất). Rà soát lại quy hoạch phát triển một cách toàn diện, bao gồm nông, lâm, thuỷ lợi, thuỷ sản. Trên cơ sở tiềm năng đất đai, tài nguyên thiên nhiên và lợi thế so sánh của vùng và của từng tỉnh, đảm bảo ổn định phát triển tối thiểu từ 10 năm. Tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển các nông, lâm trường quốc doanh, cân đối năng lực quản lý và sử dụng đất đai của các nông, lâm trường; kiên quyết chuyển phần đất đai còn lại giao cho chính quyền địa phương để giao cho nông dân và các thành phần kinh tế khác sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế. Quy hoạch sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng tạo các vùng nguyên liệu, hàng hoá tập trung gắn với cơ sở chế biến và thị trường. Điều chỉnh lại cơ cấu đất sản xuất nông, lâm nghiệp, trước mắt điều chỉnh lại diện tích đất trồng cà phê (khoảng 94.000 ha từ nay đến năm 2010). Quy hoạch mạng lưới các công trình thuỷ lợi gắn với sản xuất nông, lâm nghiệp và đa chức năng, vừa phục vụ sản xuất, vừa phục vụ sinh hoạt của nhân dân.

Về Chính sách: Tiếp tục tổ chức thực hiện các chính sách về đất đai, hỗ trợ kinh tế hộ phát triển sản xuất hàng hoá như: hoàn thành việc giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình và các tổ chức, các nông, lâm trường; phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ. Tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích các hộ nhận đất, nhận rừng, phát triển kinh tế trang trại sản xuất hàng hoá, hướng vào phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc (những cây con có giá trị cao, có thị trường). Hỗ trợ các chủ trang trại vay vốn, tiêu thụ sản phẩm và có chính sách bảo hộ sản xuất để họ yên tâm đầu tư vào sản xuất, nhất là đối với đồng bào dân tộc.

Tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và xây dựng mới một số chính sách. Đảm bảo đủ đất sản xuất và đất ở cho đồng bào dân tộc tại chỗ, thực hiện nghiêm túc Quyết định 132/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, tăng cường công tác khuyến nông, khuyến lâm, trợ cấp giống cây, con ban đầu và cho vay vốn để giúp đồng bào dân tộc phát triển sản xuất.

Đổi mới chính sách định canh định cư và chính sách kinh tế mới đưa dân đến Tây Nguyên, hạn chế và ngăn chặn luồng di dân tự do đến Tây Nguyên. Nghiên cứu, bổ sung một số chính sách có liên quan, đảm bảo tính đồng bộ, phù hợp với điều kiện thực tế, phong tục tập quán truyền thống, nhằm hỗ trợ đồng bào các dân tộc phát triển sản xuất hàng hoá, ổn định và nâng cao đời sống. Xây dựng vùng Tây Nguyên thành một trung tâm kinh tế - văn hóa mạnh của cả nước.

Về xây dựng cơ sở hạ tầng, trước hết là thuỷ lợi. Xây dựng các hồ chứa, đập dâng giữ nước đa năng, vừa tưới cho cây trồng, vừa cấp nước sinh hoạt cho nhân dân, phát huy tối đa khả năng và công suất của các công trình. Chuyển dịch một phần và ưu tiên đầu tư các công trình thuỷ lợi phục vụ tưới cho cây công nghiệp là chính. Tu bổ, sửa chữa các công trình hiện có để sử dụng công suất tưới. Đưa công suất huy động từ 40% lên 70-80% năng lực thiết kế để tiết kiệm nước và mở rộng diện tích tưới. Nâng cấp và hoàn thiện các công trình đã xuống cấp, nhất là hệ thống kênh mương cấp I, II. Trước mắt nên kiên cố hoá kênh mương nhằm hạn chế tổn thất nước, phải xem đây là biện pháp quan trọng vì trong mùa khô trên vùng đất bazan sự mất nước trên kênh dẫn là rất lớn.

Hiện nay rất nhiều công trình thuỷ lợi (các hồ chứa) bị bồi lắng nhanh, khả năng tích nước trong hồ giảm, không đủ nước tưới. Biện pháp quan trọng là trồng rừng phòng hộ, tăng dự trữ nước các hồ, đập, nạo vét lòng hồ, kiên cố hoá tràn tạm để đảm bảo an toàn hồ chứa.

Do nguồn vốn khó khăn nên ưu tiên đầu tư những công trình vừa phục vụ sản xuất, vừa cấp nước sinh hoạt cho dân, đặc biệt đối với đồng bào dân tộc ở vùng sâu, vùng xa, hẻo lánh, vùng kinh tế mới và vùng định canh định cư.

Từng bước khai thác nguồn nước ngầm để tưới cho cây trồng và phục vụ sinh hoạt của dân. Thực hiện nghiêm ngặt việc bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn và bổ sung trồng rừng phòng hộ.

Với những cơ sở hạ tầng khác: Dành đất và đầu tư xây dựng các trung tâm thương mại tập trung ở các thành phố, thị xã thành trung tâm mua bán, trao đổi hàng hoá, cần trợ giá vận tải đưa hàng hoá vật tư, máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp vào các thôn bản xa. Dành đất và đầu tư xây dựng thêm một số chợ ở các xã, các điểm đông dân cư, các chợ ở cụm xã để thuận lợi trao đổi hàng hoá trước hết là nông lâm sản.

Các cơ sở thương mại Nhà nước cần hướng đầu tư vào khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Thành lập các hội nông dân cùng với sự giúp đỡ của Nhà nước tìm thị trường tiêu thụ nông sản trong vùng. Củng cố và mở mới một số trạm giao dịch, giới thiệu sản phẩm ở một số thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng,… tăng cường công tác tiếp thị.

Tăng cường công tác khuyến nông, khuyến lâm, xây dựng mô hình trình diễn thâm canh cao để hướng dẫn, chuyển giao công nghệ, tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nhất là đối với vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người (giá trị thu nhập 50 triệu đồng/ha/năm. Hộ 50 triệu đồng/hộ/năm).

Các địa phương phối hợp với Trung ương đầu tư cho các dự án giống và các đơn vị sản xuất giống. Tập trung giải quyết và đưa vào sản xuất các loại giống cà phê, cao su, chè, bông, mía, lợn hướng nạc, cây lâm nghiệp… có năng suất cao, chất lượng tốt. Ngân sách Nhà nước đầu tư cho công tác nghiên cứu giống mới, đồng thời tổ chức các biện pháp quản lý, kiểm nghiệm và cấp giấy kinh doanh giống các loại.

Tập trung đào tạo nguồn nhân lực: Tây Nguyên hiện nay là vùng thiếu nhân lực để khai thác tiềm năng kinh tế của vùng. Vì vậy cần thiết phải tăng cường đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ đặc biệt chú trọng đến nguồn nhân lực trẻ là đồng bào dân tộc ít người; cùng với đào tạo nguồn nhân lực trong vùng có kế hoạch bổ sung nguồn nhân lực từ ngoài vùng, chọn lựa lao động trẻ có văn hóa, tay nghề từ các vùng khác đến tăng cường lực lượng lao động cho Tây Nguyên.

Tăng cường mở lớp đào tạo và thường xuyên tập huấn cho các đối tượng: già làng, trưởng bản… giúp họ nâng cao dần năng lực quản lý xã hội, quản lý đất đai, kiến thức về khuyến nông, khuyến lâm trở thành hạt nhân thuyết phục dân bản, đổi mới phương thức sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai.

Quản lý và sử dụng đất đai của Tây Nguyên theo quy hoạch và kế hoạch có hiệu quả và bền vững để phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội phải được thực hiện gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn ở vùng Tây Nguyên, trước hết là chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, đây là chủ trương lớn, có tính quyết định tới việc phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá, có hiệu quả cao về kinh tế và bền vững môi trường sinh thái. Các tỉnh Tây Nguyên cần quản lý và tổ chức việc sử dụng đất đai tiết kiệm, có hiệu quả và bền vững; tiến hành việc rà soát và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phù hợp với thực tiễn và nhu cầu phát triển. Quán triệt Nghị quyết 09/NQ của Chính phủ, để quy hoạch vùng kinh tế nông, lâm nghiệp gắn chặt chẽ giữa sản xuất, chế biến và thị trường, nâng cao hiệu quả và giá trị của nông sản và của đất đai.

Bảo quản chế biến và thị trường sản phẩm, xây dựng kết cấu hạ tầng cho các vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá theo hướng tăng cường xuất khẩu. Cần chú trọng đầu tư phát triển nông thôn vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, giải quyết đủ đất cho đồng bào.

Phát huy vai trò “bà đỡ” của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, trong phát triển sản xuất, cung ứng vật tư, kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm, hỗ trợ đồng bào các dân tộc, nhất là vùng sâu, vùng xa, sử dụng đất đai có hiệu quả phát triển sản xuất, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo.

Các Viện, trường tập trung nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống cây trồng, vật nuôi, kỹ thuật canh tác, công nghệ sau thu hoạch… đào tạo bồi dưỡng cán bộ, ưu tiên đào tạo cán bộ là người dân tộc.

Các Bộ, ngành Trung ương cần có chương trình, kế hoạch đầu tư, hỗ trợ địa phương, sử dụng đất đai có hiệu quả và bền vững, trước hết cho vùng chuyển đổi cơ cấu cây trồng gắn với việc thực hiện các chính sách thuộc phạm vi chức năng nhiệm vụ được giao.

Nguyễn Ngô Hạo

 

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,899,686


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs