Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Hà Giang đưa Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) vào cuộc sống với quyết tâm thực hiện thắng lợi 5 chương trình lớn
 20/06/2005

       Trong lịch sử phát triển của mình, nhất là từ khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và trong những năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, những thành tựu mà nhân dân Hà Giang đạt được đều có một nhân tố vô cùng quan trọng. Đó là sự đoàn kết, tập hợp nhân dân các dân tộc cùng chung sống trên mảnh đất phên dậu của Tổ quốc.

 Một đặc điểm rất nổi bật của Hà Giang là một tỉnh miền núi cao biên giới, địa đầu phía Bắc của Tổ quốc; gần 63 vạn dân với 22 dân tộc, trong đó có tới 90% số dân là đồng bào các dân tộc thiểu số như: dân tộc Mông chiếm 31,5%; dân tộc Tày 26,2%; dân tộc Dao 15,4%… Điểm xuất phát của tỉnh rất thấp; cơ sở hạ tầng kém phát triển; dân trí thấp; nhiều phong tục tập quán lạc hậu còn tồn tại khá nặng nề trong nhân dân… Hà Giang là một tỉnh đặc biệt khó khăn vì có tới 70% số xã thuộc diện vùng III; có 4 huyện vùng cao núi đá rất thiếu đất, thiếu nước, thiếu chữ, thiếu cơ sở hạ tầng, khí hậu khắc nghiệt nhưng đồng bào các dân tộc có truyền thống yêu quê hương, đất nước, đời này qua đời khác vẫn bám trụ để giữ gìn non sông Tổ quốc.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, trong những năm gần đây, nhân dân các dân tộc tỉnh Hà Giang đã đoàn kết, nỗ lực vượt qua khó khăn, phấn đấu không mệt mỏi đạt được những thành tựu rất đáng phấn khởi, làm thay đổi hẳn bộ mặt đời sống của đồng bào, tạo một khí thế mới, sức bật mới. Các thành phần kinh tế ở Hà Giang phát triển khá mạnh, đóng góp đáng kể cho ngân sách. Hiện nay toàn tỉnh có 282 doanh nghiệp các loại. Trong đó có 40 doanh nghiệp Nhà nước: có hơn 5,5 vạn hộ kinh doanh thương mại; hơn 3.000 hộ và cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp; hơn 1.000 hộ sản xuất theo mô hình kinh tế trang trại; đã thành lập mới và chuyển đổi 250 hợp tác xã theo luật.

Tăng trưởng kinh tế mấy năm gần đây liên tục ở mức độ cao, năm sau luôn cao hơn năm trước; năm 2002 đạt 10,5%. Cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá, tỷ trọng nông - lâm nghiệp trong GDP ngày càng giảm, tỷ trọng công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ ngày càng tăng. Năm 2002, các tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế là: nông - lâm nghiệp 46,7%, công nghiệp, xây dựng 21,9%, thương mại - dịch vụ 31,4%. Sản xuất nông - lâm nghiệp phát triển ổn định, toàn diện cả về trồng trọt và chăn nuôi, tăng cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Năm 2002, sản lượng lương thực đạt 22,3 vạn tấn; bình quân đạt 350 kg/người/năm. Từ một tỉnh thiếu lương thực, đến nay đã đủ cân đối trên địa bàn. GDP bình quân đầu người đạt 2,2 triệu đồng/năm, tăng 2,5 lần so với năm 1995. Từ một tỉnh có tới 46% hộ đói, nghèo (năm 1997), đến nay tỷ lệ này chỉ còn 18%; một số nơi có tỷ lệ đói, nghèo thấp (thị xã Hà Giang 4,4%, huyện Bắc Quang 8%, Vị Xuyên 10%…). Nói chung, đời sống nhân dân các dân tộc trong tỉnh ngày càng được cải thiện rõ rệt.

Hà Giang đã chú trọng phát triển cây thế mạnh của tỉnh trở thành vùng sản xuất hàng hoá như: chè Shan tuyết (1,3 vạn ha), cây đậu tương (9.000 ha), cây lạc (2.500 ha), cây ăn quả các loại (8.000 ha). Tỉnh đang trồng khảo nghiệm một số cây thuốc lá, cây tre măng bát độ, măng lục trúc… Chăn nuôi cũng là một thế mạnh đang được tỉnh phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá. Toàn tỉnh hiện có 56 vạn gia súc, 1,3 triệu gia cầm. Mấy năm gần đây, tỉnh đã hỗ trợ kinh phí cho 3,6 vạn hộ vay vốn không lãi trong 3 năm để phát triển chăn nuôi 3,6 vạn con trâu, bò; tỉnh đang hỗ trợ 50% lãi suất để giúp các hộ phát triển 1 vạn con trâu, bò hàng hoá và hỗ trợ các hộ nghèo phát triển đàn dê. Trồng, chăm sóc, khoanh nuôi, bảo vệ rừng, gắn bảo vệ rừng với định canh định cư theo hướng phát triển vườn rừng có sự đầu tư của Nhà nước, đang là những việc rất quan trọng được tỉnh quan tâm đặc biệt. Nhờ đó đã góp phần làm cho độ che phủ của rừng ngày càng tăng, hiện nay đã đạt 39,1%, có huyện như Bắc Quang đạt 80%. Vừa qua, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ra Nghị quyết nêu rõ trong 2 năm 2003-2004 tập trung trồng 1 vạn ha cây sa mộc (tương đương 16 triệu cây) ở 4 huyện vùng cao núi đá và 2 huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần theo phương thức tỉnh cấp cây giống, mỗi hộ từ 500 đến 1.000 cây để các hộ trồng trên đất vườn đồi của mình. Các hộ nghèo, khó khăn ở các huyện trên, ngoài cây giống còn được hưởng tiền công chăm sóc cây trong 3 năm theo định mức của Chương trình 661.

Một trong những thành tựu nổi bật của Hà Giang trong những năm gần đây là củng cố, xây dựng cơ sở hạ tầng. Hiện nay, 100% số xã đã có đường ôtô tới trung tâm; 1/2 số xã có đường nhựa đi qua; 70% số thôn, bản đã có đường ôtô tới nơi. Tất cả các bệnh viện tỉnh, huyện đều đã được xây cao tầng; 100% số xã có trường học chính ở trung tâm xã là nhà 2 tầng; 70% số điểm trường trong toàn tỉnh đã được xây bằng gạch, lợp ngói, trong đó có 1.000 điểm trường được xây cấp 4; đã có 1/2 số xã trong tỉnh có trạm y tế và trụ sở làm việc 2 tầng, 500 thôn, bản có trụ sở làm việc. Nhà ở của nhân dân, nhất là ở những vùng cao, vùng xa và đồng bào các dân tộc thiểu số, được tỉnh quan tâm hỗ trợ. Hiện nay đã có 8,5% số hộ trong tỉnh có nhà cấp 3; 41% số hộ có nhà mái ngói (tăng gấp 3 lần so với năm trước); còn 15% số hộ đang ở nhà tạm.

Văn hoá - xã hội ngày một tiến bộ và thu được những thành tích rất phấn khởi. Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đến trường đạt 96%. Năm 1999 toàn tỉnh được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ. Hiện nay, thị xã Hà Giang và huyện Bắc Quang đã được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập trung học cơ sở. Trong 2 năm gần đây, tỉnh đã có chương trình hỗ trợ 50% giá cho 6.500 hộ nghèo mua ti vi và lắp đặt 150 bộ TVRO cho các thôn bản không thể phủ sóng truyền hình trên địa bàn tỉnh đạt 75%; phủ sóng phát thanh đạt 80%; 60% số hộ có điện sử dụng, trong đó 41% sử dụng điện lưới. Đối với các huyện vùng cao nơi thiếu nước, tỉnh đã hỗ trợ xây dựng được 3,5 vạn bể nước các loại, trong đó 3,2 hộ được đầu tư trực tiếp mỗi hộ 1 bể nước, 3,2 vạn hộ được cấp thêm tấm lợp nhà, 2,84 vạn hộ được kéo điện trực tiếp đến nhà ở. Trên 60 số thôn, bản đã có y tá; tất cả các xã đều đã có y sĩ, chất lượng khám, chữa bệnh ngày càng tốt hơn; không có dịch bệnh lớn xảy ra, các hoạt động truyền thông dân số, dịch vụ kế hoạch hoá gia đình được thực hiện tốt; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,85%.

Là một tỉnh có 270 km biên giới, địa hình rất hiểm trở, phức tạp nhưng do làm tốt công tác quốc phòng - an ninh cho nên những năm gần đây trên địa bàn Hà Giang không có tình hình phức tạp, không có “điểm nóng” xảy ra; không có hiện tượng khiếu kiện đông người, tình hình trật tự an toàn xã hội luôn luôn bảo đảm. Hiện nay không còn hiện tượng dân di cư tự do, tình hình truyền đạo trái phép giảm hẳn. Hệ thống chính trị trên địa bàn tỉnh Hà Giang được củng cố, tăng cường một bước. Toàn tỉnh không còn bản “trắng” đảng viên. Trong 3 năm qua, tỉnh thường xuyên tăng cường cán bộ từ tỉnh, huyện xuống xã làm cán bộ chủ chốt đạt kết quả tốt. Có thể khẳng định rằng, những thành quả trên tất cả các lĩnh vực mà Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Hà Giang đạt được những năm gần đây đều có đóng góp rất quan trọng của việc thực hiện công tác vận động đồng bào các dân tộc và quần chúng nhân dân đồng sức đồng lòng vì sự giàu mạnh của đất nước, vì sự hạnh phúc của nhân dân mà nhân tố có tính quyết định là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của tất cả các dân tộc sinh sống trên mảnh đất Hà Giang.

Qua các phong trào cách mạng của quần chúng, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hà Giang ngày càng tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu trong việc thực hiện chế độ chính sách, giải quyết những vấn đề của nhân dân các dân tộc.

- Tăng cường vai trò lãnh đạo, quản lý, giám sát, kiểm tra, đôn đốc của các cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp và các tổ chức, đoàn thể nhân dân, yếu tố quyết định để đạt được các chương trình, mục tiêu kinh tế - xã hội đã đề ra.

- Phát triển toàn diện các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, giải quyết các vấn đề xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng; gắn tăng trưởng kinh tế với việc giải quyết các vấn đề xã hội, từng bước cải thiện đời sống của nhân dân.

- Biết chọn khâu đột phá, chương trình trọng điểm và những vùng còn có nhiều khó khăn, thiếu thốn, giải quyết những vấn đề cụ thể liên quan trực tiếp đến đời sống hàng ngày của đồng bào như phát triển đường giao thông, cơ sở hạ tầng; xoá đói giảm nghèo; giải quyết nước sinh hoạt cho đồng bào các huyện vùng cao núi đá kết hợp với việc hạ sơn, ngói hoá nóc nhà…

- Khai thác có hiệu quả những tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, từng dân tộc đi đôi với phát huy tốt nhất nguồn nội lực, tinh thần tự lực, tự cường, đồng thời tăng cường sự giúp đỡ về mọi mặt của Trung ương, của các ngành, các tổ chức, các địa phương trong cả nước.

- Quan tâm chăm lo bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực; đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ người các dân tộc thiểu số một cách đồng bộ. Thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sắp xếp, luân chuyển cán bộ và các chính sách đối với cán bộ. Chú trọng nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài. Coi đây là những nhân tố quyết định trong việc thực hiện thắng lợi các Nghị quyết của Đảng.

Tuy vậy, Hà Giang vẫn là một tỉnh nghèo còn nhiều khó khăn trong đó tỷ lệ đói nghèo còn cao, cơ sở hạ tầng thấp kém, thu nhập đời sống của đồng bào còn thấp… Đảng bộ và nhân dân Hà Giang đang khắc phục khó khăn để giành thắng lợi cao hơn.

Phát huy những thành tích của những năm qua, thực hiện tốt hơn nữa đường lối, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước, đưa các Nghị quyết Trung ương 7 vào đời sống, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Giang đã họp mở rộng nhằm quán triệt một bước các Nghị quyết Trung ương 7, xây dựng chương trình hành động, đề ra những nhiệm vụ nhằm thực hiện có hiệu quả thiết thực các Nghị quyết nói trên ở Hà Giang. Trước mắt Tỉnh uỷ Hà Giang đã đề ra một số mục tiêu chính trong năm 2003 cũng như những năm tiếp theo là: Phát huy cao độ các nguồn lực trong dân, khai thác có hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh của địa phương để đẩy mạnh phát triển kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá. Đẩy mạnh phổ cập trung học cơ sở; phát triển giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa, xã hội. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trong phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Đảm bảo hoàn thành thắng lợi các kế hoạch của tỉnh đã đề ra.

Trong năm 2003 và 2004, tỉnh Hà Giang tập trung thực hiện thắng lợi 5 chương trình lớn sau đây:

Chương trình thứ nhất: Đẩy mạnh phong trào xóa đói giảm nghèo, vượt khó đi lên để làm giàu cho gia đình, thôn bản, xã, phường và toàn tỉnh. Tập trung xóa đói giảm nghèo cho 1 vạn hộ ở những xã còn mức đói nghèo cao, trong đó ở các huyện: Đồng Văn, Mèo Vạc, Xín Mần, Quản Bạ là 6.000 hộ; các xã còn tỷ lệ đói nghèo trên 25% ở các huyện khác thì tập trung giải quyết cho 1/3 số hộ nghèo. Đối với các hộ này được hưởng một số chính sách cụ thể như: mỗi hộ được vay 1 triệu đồng ở ngân hàng chính sách xã hội; tỉnh hỗ trợ 100% lãi suất ngân hàng trong 2 năm để mua cho mỗi hộ 2 con dê cái giống và vay 1 triệu đồng để phát triển sản xuất (các hộ tự trả lãi ngân hàng); được tỉnh giúp đỡ về tấm lợp và vật liệu làm nhà ở; được đầu tư trồng 500 đến 1000 cây sa mộc; được giúp đỡ bể nước và kéo điện lưới về đến nhà (nếu chưa có điện); được hỗ trợ trồng cỏ chăn nuôi (ở những nơi có điều kiện); được đầu tư làm nương xếp đá hoặc ruộng bậc thang. Để thực hiện được chương trình này, ngoài vốn tín dụng, vốn ngân sách hỗ trợ lãi suất, tỉnh phát động phong trào ủng hộ quỹ vì người nghèo trong toàn tỉnh. Trong năm 2003, mỗi cán bộ công chức, viên chức, chiến sỹ trong lực lượng vũ trang ủng hộ bằng tiền mặt 10 ngày lương và các khoản phụ cấp; tiết kiệm 5% các khoản chi thường xuyên của các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội trong toàn tỉnh, đảm bảo quỹ xóa đói giảm nghèo của tỉnh có thêm từ 5 đến 10 tỷ đồng.

Chương trình 2: Phát triển 1 vạn con trâu, bò hàng hoá và 2 vạn con dê. Các huyện, thị hướng dẫn các hộ nông dân nghèo vay vốn ngân hàng chính sách xã hội (1 triệu đồng/hộ), để mua dê giống. Số vốn vay ở mỗi huyện, thị không quá 2 tỷ đồng, ngân sách tỉnh giúp hỗ trợ 100% lãi suất vốn vay trong 2 năm. Sau đó các huyện, thị có trách nhiệm đôn đốc các hộ nông dân trả đủ vốn gốc cho ngân hàng. Chương trình này được thực hiện tương tự như dự án phát triển 3 vạn con bò thời gian qua.

Chương trình 3: Trồng mới 1 vạn ha cây sa mộc. Trong 2 năm (2003-2004), tỉnh tập trung đầu tư trồng 1 vạn ha cây sa mộc (tương đương 16 triệu cây), ở 4 huyện vùng cao núi đá và ở các huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần, theo phương thức đầu tư trực tiếp để các hộ dân trồng trong vườn, đồi nhà mình. Riêng trong năm 2003, phấn đấu trồng 8 triệu cây. Các huyện: Đồng Văn, Yên Minh, Xín Mần mỗi huyện 2 triệu cây; Mèo Vạc 1 triệu cây; Quản Bạ và Hoàng Su Phì mỗi huyện trồng 500 ngàn cây. Sở Tài chính - Vật giá có trách nhiệm chuyển tiền về các huyện, các huyện có trách nhiệm mua cây giống cấp cho các hộ và vận động, hướng dẫn nhân dân trồng đúng kỹ thuật, bảo đảm tỷ lệ cây sống cao. Ngoài cây sa mộc, tuỳ tình hình cụ thể của từng vùng có thể trồng các loại cây phù hợp khác, nhưng phải là cây lấy gỗ và số cây này không vượt quá tỷ lệ 35% kế hoạch.

Chương trình 4: Đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn. Sẽ kéo điện lưới đến 1 vạn hộ dân, triển khai xây dựng 100 km đường ôtô bằng bê tông liên xã, trong đó ở huyện Hoàng Su Phì là 50 km, huyện Bắc Quang, Vị Xuyên mỗi nơi 20 km, còn lại là ở nơi khác.

Chương trình 5: Đẩy mạnh chương trình hỗ trợ 15.000 hộ về nhà ở, trong đó xoá nhà tạm 7.000 hộ. Theo chương trình này, các hộ được phân thành 3 loại: 6.000 hộ được hỗ trợ về tấm lợp; 1.500 hộ được hỗ trợ bằng xi măng và 7.500 hộ được hỗ trợ bằng vật liệu xây dựng.

Thực hiện tốt 5 chương trình kinh tế này, chính là Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hà Giang đã thiết thực thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khoá IX, đồng thời đem lại lợi ích và nâng cao đời sống của nhân dân các dân tộc trong tỉnh.

TS. Vũ Ngọc Kỳ
Uỷ viên TW Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ Hà Giang

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,901,166


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs