Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 16/06/2005
Thực trạng cùng Những giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển giáo dục ở Một số vùng khó khăn dân tộc miền núi
        Năm học 2002-2003 Ban Khoa giáo Trung ương đã tiến hành khảo sát tình hình giáo dục ở một số tỉnh thuộc các vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long. Đó là những tỉnh tập trung nhiều xã đặc biệt khó khăn nằm trong Chương trình 135 của Chính phủ. Kết quả cho thấy: ở bậc giáo dục mầm non, sau hơn 6 năm kể từ năm học 2002-2003 này so với năm học 1996-1997: số học sinh tăng 2.910 em (tăng 0,1%); số giáo viên tăng 1.867 người (tăng 1,2%).

         Riêng năm học 2002-2003, huy động trẻ vào mẫu giáo theo kế hoạch là 80,63%-94,4%, cao hơn tỷ lệ chung của cả nước. ở bậc giáo dục tiểu học, 100% xã ở các tỉnh khó khăn đã có trường tiểu học, nhiều xã đã có 2-3 trường, có trường đã mở tới 3-4 điểm trường để tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em đi học. So với năm học 2002-2001, năm học 2002-2003 số trường tiểu họưc cả nước tăng 1,21 lần, các vùng khó khăn tăng từ 1,05 đến 1,1 lần (riêng vùng Đông Bắc lại giảm 11 trường). Tỷ lệ huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt từ 97-99%, số học sinh trong độ tuổi đi học đến trường đạt tỷ lệ ngày càng cao, điều đó cho thấy ở bậc tiểu học phát triển tương đối vững chắc.

        Về xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, việc duy trì kết quả xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học ở các tỉnh khó khăn đã có tiến bộ. Tháng 6/2000, tất cả các tỉnh khó khăn cùng cả nước đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học - xoá mù chữ. Từ đó đến nay, số người trong độ tuổi 15-25 chưa biết chữ giảm từ 2-4 lần và đạt tỷ lệ 94%-96% người biết chữ trong độ tuổi. Số trẻ em trong độ tuổi cần phổ cập giáo dục tiểu học giảm từ 1,7-4,4 lần.

       Ở bậc giáo dục THCS, quy mô học sinh cả nước tăng 1,5 lần, so sánh năm học 2000-2001 với năm học 2002-2003, các vùng khó khăn tăng từ 1,1 -1,2 lần. Số trường THCS cũng tăng, một số nơi chưa có điều kiện để mở trường THCS đã mở lớp nhô. Tỷ lệ trường tăng ở các vùng khoảng 1,2 lần bằng với tỷ lệ tăng chung của cả nước. Số trường tăng cao nhất là vùng Đông Bắc tăng 653 trường trên tổng số 2.914 chiếm 22,4%, thấp nhất là Tây Bắc tăng 8,2% (92/1124), Tây Nguyên tăng 10,05% (59/562).

        Ở bậc giáo dục THPT, có nhiều tiến bộ, so sánh năm học 2000-2001 với năm học 2002-2003, số học sinh cả nước tăng 2,41 lần, ở các vùng khó khăn số học sinh tăng khoảng 1,15-1,26 lần. Một số tỉnh tăng từ 2 đến 3 lần, như Bắc Kạn tăng 2,1 lần, Kiên Giang tăng 2,9 lần, Lai Châu 2,9 lần, Lào Cai tăng 2,3 lần, cao hơn bình quân của cả nước.

        Số trường ở các vùng khó khăn tăng từ 1,1-1,29 lần. Hiện nay, hầu hết các huyện đều có trường THPT, còn một số ít huyện chưa mở được trường THPT thì đã mở lớp nhô trong trường THCS hoặc trường phổ thông DTNT.

        Giáo dục cho học sinh ở các trường PTDTNT, năm học 2002-2003, cả nước có 11 trường PTDTNT của Trung ương, 44 trường PTDTNT của tỉnh, 205 trường PTDTNT của huyện, 150 trường cụm xã với 59.160 học sinh thuộc 43/54 dân tộc. Riêng Tây Nguyên có 40 trường PTDTNT. Số trường DTNT tăng, một số tỉnh đã mở thêm trường, như Cao Bằng mở thêm 2 trường, Kiên Giang thêm 2 trường, Trà Vinh thêm 4 trường, Bắc Cạn thêm 2 trường. Hệ thống các trường PTDTNT ngày càng được nâng cấp. Các chế độ chính sách được các địa phương thực hiện đầy đủ hơn. Số học sinh theo học ở các trường PTDTNT cũng tăng, ở Kiên Giang từ 601 học sinh lên 917 học sinh, tăng 1,5 lần, Trà Vinh từ 427 lên 1.095 tăng 2,5 lần, Sơn La từ 827 lên 2.371, tăng đến 2,8 lần. Kon Tum tăng 1,63 lần. Mô hình trường bán trú dân nuôi phát triển mạnh. Năm học 2001-2002 cả nước có 25 tỉnh với 114 huyện có 639 trường bán trú dân nuôi bậc tiểu học thu hút 39.959 học sinh và 20 tỉnh, với 76 huyện có trường bán trú dân nuôi bậc trung học cơ sở thu hút 100.460 học sinh trong đó số học sinh nội trú là 20.736 học sinh. Các tỉnh này thuộc miền núi phía Bắc, Trung bộ, Tây Nguyên.

        Đến nay Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng được 8 bộ chương trình cho các chữ Chăm, Mông, Hoa, Thái, Ba Na, Jarai, Xê Đăng, Nùng. Tỉnh Gia Lai đã chủ động biên soạn chương trình, tài liệu và dạy tiếng Êđê; tỉnh Trà Vinh đã chủ động nghiên cứu dạy tiếng Khmer. Việc tiến hành dạy chữ dân tộc cho người dân tộc thiểu số bước đầu đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân.

        Ở các vùng khó khăn số giáo viên tiểu học tăng từ 1,05-1,1 lần. Giáo viên THCS tăng từ 1,18-1,36 lần, trong đó cao nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long tăng 6.243 giáo viên, thấp nhất Tây Nguyên và Tây Bắc chỉ tăng khoảng hơn 3.500 giáo viên, những vùng khác tăng khoảng hơn 5000 giáo viên.

        Giáo viên THPT ở các vùng khó khăn tăng từ 1,15-1,37 lần.

        Tổng số giáo viên dạy trong các trường dân tộc nội trú là 4.235 người, trong đó giáo viên là người dân tộc 885 người chiếm 20,9%. Hiện giáo viên còn thiếu theo quy định là 440 chiếm tỷ lệ 10,4%.

        Tỷ lệ giáo viên các cấp học tăng tương ứng với tỷ lệ tăng của học sinh do đó, tuy số lượng giáo viên có tăng nhưng tỷ lệ giáo viên/lớp gần như không thay đổi. Riêng bậc tiểu học số giáo viên tăng, số học sinh giảm nên tỷ lệ giáo viên/lớp có tăng, đây là một trong những điều kiện thuận lợi để chúng ta tiến hành chuẩn hoá bậc học này.

        Về cơ sở vật chất:

        Tính đến năm 2002, tỷ lệ phòng học cấp 4 và kiên cố: đối với bậc tiểu học là 81,19%; THCS là 91,19%; THPT là 94,19%. Tính riêng một số tỉnh khó khăn được khảo sát, từ năm1997 đến 2002, cơ sở vật chất các trường học đã được cải thiện rõ rệt, số phòng học kiên cố đều tăng, một số tỉnh có số phòng tăng hơn 1000 phòng/tỉnh như tỉnh Trà Vinh, tỉnh Quảng Nam.

        Số phòng học tạm đã giảm, số phòng học kiên cố tăng, hầu hết các tỉnh được khảo sát như Lai Châu, Cao Bằng, Quảng Nam, Gia Lai, Trà Vinh và một số tỉnh khác đã dùng vốn 135 để xây dựng và cải tạo nhà trường.

        Số trường có thư viện cũng tăng, một số tỉnh đã chú ý dành quỹ đất để xây dựng trường theo hướng đạt chuẩn quốc gia.

        Về tình hình phổ cập THCS:

        Đến tháng 8/2003, cả nước đã có 15/61 tỉnh được công nhận đạt chuẩn PCTHCS, các tỉnh khó khăn đang cố gắng phấn đấu đạt chuẩn trước năm 2010. Có tỉnh số xã đạt chuẩn tương đối cao như Bình Định có 125/155 xã đạt chuẩn bằng 80,7%. Điển hình là Tuyên Quang, mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng đã hoàn thành PCTHCS vào năm 2002.

        Tính chung các tỉnh khó khăn, số người trong độ tuổi 11-18 ở ngoài nhà trường đã giảm từ 1,5-2,5 lần, kết quả này chứng tỏ việc huy động người trong độ tuổi PCTHCS có tiến bộ, công tác PCTHCS đang được các địa phương quan tâm. Các tỉnh đều quyết tâm thực hiện PCTHCS trước năm 2010.

        Về chất lượng giáo dục từng bước được cải thiện, thể hiện trên một số mặt sau:

        - Giáo dục toàn diện đang được các tỉnh quan tâm, ở một số tỉnh đã chú trọng đào tạo các giáo viên dạy các môn chuyên biệt, trong lúc thiếu giáo viên, giải pháp tình thế được các tỉnh thực hiện là bồi dưỡng một số giáo viên có năng khiếu để dạy chéo môn.

        - Sau 5 năm (1997-2002), tỷ lệ lưu ban và bỏ học ở bậc trung học giảm từ 1,5-2,4 lần, như tỉnh Cao Bằng giảm 1,5 lần, Lai Châu giảm 2,4 lần, Đồng Tháp giảm 2 lần. Riêng tỷ lệ lưu ban và bỏ học ở bậc tiểu học giảm từ 2-4 lần; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp đều đạt ở mức cao: tiểu học đạt từ 98-99%; bậc trung học từ 90-95%.

        - Tỷ lệ học sinh học 2 buổi/ngày đã được nâng lên, phong trào xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia đang được các tỉnh quan tâm và nhân dân đồng tình ủng hộ, số trường đạt chuẩn quốc gia ngày càng nhiều, điển hình là huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam có đến 50% trường tiểu học, 7/17 trường THCS đạt chuẩn quốc gia.

        - Việc triển khai đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy và sách giáo khoa đã đạt được kết quả bước đầu. Theo đánh giá của các tỉnh cho thấy nếu triển khai nghiêm túc và có đủ điều kiện để thực hiện việc đổi mới giáo dục thì chất lượng giáo dục đã nâng lên, kết quả thi hết năm học 2002-2003 có khoảng 70-80% học sinh đạt yêu cầu, các sở giáo dục đã quan tâm đến việc bồi dưỡng giáo viên và bản thân giáo viên cũng đã cố gắng để tự nâng cao chất lượng đáp ứng yêu cầu của đổi mới giáo dục, học sinh đã chủ động hơn trong quá trình học tập. Chuẩn bị cho năm học 2003-2004, các tỉnh đã chuẩn bị đủ sách giáo khoa lớp 2 và lớp 7 và phát cho các đối tượng được ưu tiên. 100% giáo viên dạy ở lớp 2, lớp 7 đã được tập huấn.

        Bên những thành tựu đạt được nêu trên là những yếu kém, cụ thể:

        Tỷ lệ huy động trẻ vào mẫu giáo bậc học mầm non có phần giảm sút, sau 6 năm đã giảm 3.225 trường. ở những vùng khó khăn chưa có điều kiện để tách trường mẫu giáo và nhà trẻ riêng. Tỷ lệ huy động trẻ 3-5 tuổi vào lớp mẫu giáo ở các vùng khó khăn vẫn chưa hoàn thành kế hoạch, cá biệt vùng Tây Bắc, Tây Nguyên hoàn thành kế hoạch ở mức rất thấp chỉ đạt 72,48% và 59,81%. Hầu hết các tỉnh khó khăn mới chỉ huy động được khoảng 30%-40% vào mẫu giáo, cá biệt có tỉnh như tỉnh Kiên Giang chỉ đạt 17,2%. Trong khi đó năm 2000 cả nước đã đạt 50%.

        Hiện nay, cả nước còn 224 xã trắng chưa có trường, lớp mẫu giáo, mầm non; (riêng tỉnh Lai Châu đã có 66/156 xã chưa có trường mầm non), hơn 3.000 bản chưa có lớp mẫu giáo, tập trung chủ yếu ở những nơi khó khăn. Các tỉnh khó khăn, tỷ lệ xã có trường THCS mới đạt từ 70-80%. Tỉnh Kon Tum mới có 51,22%, tỉnh Lai Châu mới đạt 54%. Số trường học, học sinh ở các vùng khó khăn tuy có tăng nhưng chậm hơn tỷ lệ chung cả nước. Tỷ lệ lưu ban và bỏ học vẫn ở mức cao: ở bậc tiểu học từ 4,88%-10,95% (riêng vùng duyên hải miền Trung tỷ lệ này là 2,77%); ở bậc THCS từ 6,17%-11,72%; ở bậc THPT từ 6,25%-17,59%. Hiệu quả giáo dục ở tiểu học còn thấp, tỷ lệ học sinh duy trì từ lớp 1 đến lớp 5 đạt khoảng hơn 50%, ở Tây Nguyên chỉ đạt 47,48%. Riêng tỉnh Lai Châu học sinh trung học cơ sở ra lớp đạt: 40,3%; trung học phổ thông đạt 18,2%. Số xã thực hiện phổ cập tiểu học đúng độ tuổi thấp, chỉ đạt 0,7%-1,6%.

        Tiến độ xây dựng trường chuẩn quốc gia thực hiện chậm, một số tỉnh mới có 1-3 trường như Cao Bằng, Bắc Kạn, Trà Vinh.

        Tỷ lệ người chưa biết chữ ở một số tỉnh khó khăn vẫn cao, gấp khoảng 1,5 lần so với tỷ lệ chung của cả nước như Cao Bằng, Cà Mau, Kon Tum. Có tỉnh tỷ lệ tái mù chữ có xu hướng tăng lên, như tỉnh Lai Châu có 29 xã không đạt chuẩn quốc gia về xoá mù chữ. Tỉnh Kon Tum có 8 xã không duy trì được kết quả PCGDTH; có 12 xã không duy trì được kết quả XMC.

        Ở các tỉnh khó khăn, số giáo viên ở các bậc học tăng chậm. Chất lượng giáo viên thấp hơn mặt bằng chung cả nước, cụ thể: Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn 12+2 ở các tỉnh khó khăn đạt khoảng 40-50%, trong khi cả nước tỷ lệ này là 74%. Tỷ lệ giáo viên trung học đạt chuẩn ở nhiều tỉnh có tỷ lệ thấp hơn mặt bằng chung cả nước. Toàn quốc là 95,35%, thì Cao Bằng đạt 69%, Bắc Cạn là 74%, Kiên Giang 89,5%, các tỉnh Tây Nguyên và một số tỉnh khác đạt từ 93%-95%. Hầu hết các tỉnh khó khăn đều thiếu giáo viên, nhất là thiếu giáo viên THCS và chưa đồng bộ về cơ cấu: giáo viên THPT thiếu 7.019 người, THCS thiếu 15.790 người, tiểu học thiếu 8.225 người. Trong số giáo viên thiếu chủ yếu là giáo viên dạy thể dục, nhạc, hoạ, giáo dục công dân và một số ít nơi thiếu giáo viên dạy các môn tự nhiên.

        Cơ sở vật chất còn rất yếu kém, tỷ lệ phòng kiên cố/phòng tạm thấp, thiết bị vừa thiếu vừa kém chất lượng.

        Bậc mầm non tỷ lệ sân chơi/số lớp thấp: các tỉnh duyên hải miền Trung là 2,37 lớp/1 sân, ĐBSCL là 7,85 lớp/sân, các vùng khác khoảng từ 3,2 đến 4 lớp/sân. Bên cạnh đó, tỷ lệ sân có đồ chơi/tổng số sân cũng rất thấp, vùng Tây Bắc có 15,4%.

        Hiện nay, cả nước có 2.026 phòng học 3 ca, còn hơn 60 vạn phòng học tạm (trong số này chủ yếu tập trung ở vùng khó khăn), một số tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên vẫn còn khoảng 50% số phòng học tạm. Các địa phương chiếm tỷ lệ phòng học tạm cao như Sơn La 62% (8.094/8.171 phòng), Lai Châu 70,4% (3.278/4.655 phòng).

        Việc triển khai thực hiện Quyết định 159 của Thủ tướng Chính phủ về kiên cố hoá trường học còn chậm. Chính phủ đã cấp kinh phí cho các địa phương giúp các xã thuộc diện Chương trình 135 xây dựng trường với số tiền 2.500 tỷ đồng (tính đến tháng 7/2003), nhưng nhiều địa phương mới tiến hành các công việc chuẩn bị.

        50-60% số trường có thư viện nhưng chưa đạt chuẩn.

        Thiết bị dạy học thiếu và chưa đồng bộ. Việc triển khai đổi chương trình, phương pháp dạy học tuy có một số tiến bộ, nhưng tồn tại lớn nhất là thiếu thiết bị do đến muộn, nhiều trường gần hết học kỳ II thiết bị mới về nên không triển khai sử dụng. Năm học 2003-2004, mặc dù đã rút kinh nghiệm nhưng đến cuối tháng 8/2003 hầu hết các tỉnh vẫn chưa có thiết bị về tới các trường.

        Sách giáo khoa thiếu (trừ những nơi được Nhà nước hỗ trợ thì học sinh có đủ sách giáo khoa), một số nơi tỷ lệ học sinh có sách giáo khoa rất thấp như các huyện: Quảng Bạ 10%, Điện Biên Đông 20%, Trạm Tấu 15%, trong khi đó ở nhiều trường chưa có ý thức bảo quản sách.

        Tiến độ PCTHCS ở các vùng khó khăn thực hiện chậm. Tỷ lệ các xã đạt chuẩn PCTHCS thấp như Lai Châu 6,4%, Lào Cai 10%, Kon Tum đạt 7,3%.

        Quảng Nam 36,5%; Khánh Hoà 16,8%; Phú Yên 48,5%; Đắc Lắc 19,3%; Gia Lai 22,8%.

        Trà Vinh đến cuối năm học 2002-2003 cả tỉnh có 2/96 xã, phường được công nhận đạt chuẩn phổ cập THCS chiếm 2,08%.

        Từ những kết quả bước đầu đã đạt được cho thấy Kết luận Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 6 khoá IX đã từng bước đi vào cuộc sống, làm chuyển biến nhận thức và hành động của các cấp uỷ Đảng và chính quyền; các tỉnh khó khăn đã có nhiều cố gắng triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, tình hình giáo dục ở những vùng này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Các vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên, một số tỉnh ở duyên hải miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long: tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học, đội ngũ giáo viên, chất lượng, hiệu quả giáo dục còn thấp, cơ sở vật chất còn thiếu, nghèo nàn và lạc hậu; tiến độ thực hiện kiên cố hoá trường học, cung cấp thiết bị dạy học chậm. Một số tiêu chí về giáo dục ở các vùng khó khăn đạt thấp hơn cả nước. Sự phân cực về chất lượng giữa nơi thuận lợi và nơi khó khăn và giữa các tỉnh, các vùng là khá rõ. Giáo dục cho đồng bào dân tộc thiểu số còn chậm phát triển.

        Riêng đối với các vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên tình hình phát triển giáo dục lại càng khó khăn, nhất là bậc mầm non. Việc thực hiện đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy, sách giáo khoa và thực hiện PCTHCS còn nhiều khó khăn, điển hình là các tỉnh Cao Bằng, Lai Châu và Kon Tum. Các tỉnh vùng duyên hải miền Trung và một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long tuy còn khó khăn nhưng nếu cố gắng thì khả năng thực hiện những mục tiêu của chiến lược phát triển giáo dục 2001-20010 là hiện thực.

        Trước thực trạng phát triển giáo dục như vậy, chúng tôi xin đưa ra một số giải pháp và kiến nghị như sau:

        Về giải pháp:

        - Tăng cường công tác lãnh đạo và kiểm tra của các cấp uỷ Đảng và chính quyền đối với việc phát triển giáo dục, nhất là công tác PCTHCS. Thực hiện tốt Kết luận Hội nghị Trung ương 6 khoá IX về giáo dục và đào tạo, Chỉ thị 61 của Bộ Chính trị, Nghị quyết 41 của Quốc hội, Nghị quyết số 88 của Chính phủ về PCTHCS, chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001-2010, Chỉ thị số 18 của Thủ tướng Chính phủ về vấn đề sàng lọc đội ngũ giáo viên, Quyết định số 159 của Thủ tướng Chính phủ về kiên cố hoá trường học và Quyết định số 161 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển bậc học mầm non. Lồng ghép các chương trình phát triển giáo dục với các chương trình phát triển kinh tế xã hội ở địa phương. Gắn việc hoàn thành nhiệm vụ phát triển giáo dục với việc hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên.

        - Củng cố các trường sư phạm, giao nhiệm vụ và đầu tư cho một số trường đào tạo giáo viên dạy các môn chuyên biệt, tránh đầu tư dàn trải. Dành đủ thời gian cho việc bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ giáo viên nhằm nâng cao tỷ lệ đội ngũ giáo viên đạt chuẩn. Thực hiện tốt các chế độ khuyến khích đối với giáo viên, nhất là ở    những vùng sâu, vùng xa.

        - Chỉ đạo các trường THCS và THPT thực hiện một hội đồng hai nhiệm vụ, vừa hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy chính khoá, vừa thực hiện nhiệm vụ PCTHCS. Đẩy mạnh chiến dịch ánh sáng văn hoá, huy động giáo sinh về các vùng khó khăn làm công tác PCTHCS.

        - Tăng chỉ tiêu tuyển sinh cho các trường dân tộc nội trú và tăng chỉ tiêu cử tuyển cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số đi học ở các trường đào tạo. Có cơ chế ràng buộc học sinh sau khi đào tạo phải về địa phương công tác.

        Hỗ trợ một phần kinh phí cho học sinh ở các lớp bán trú dân nuôi. Dành kinh phí cho các địa phương duy trì kết quả XMC-PCGDTH. Không cắt kinh phí của giáo dục vào việc khác.

        - Tăng cường công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho học sinh sau khi tốt nghiệp phổ thông.

        - Có phương án xử lý thích hợp trong quá trình triển khai đổi mới chương trình và sách giáo khoa đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

        Những kiến nghị:

        Thứ nhất, tình hình phát triển giáo dục cũng đang gặp nhiều khó khăn, nhất là công tác phổ cập THCS, đề nghị Ban Bí thư Trung ương ra thông báo về việc đẩy nhanh tiến độ phổ cập THCS. Kiên quyết thực hiện bằng được mục tiêu quốc gia về PCTHCS vào năm 2010.

        Thứ hai, Chính phủ cần có sự chỉ đạo và nâng mức kinh phí đầu tư cho các tỉnh khó khăn. Việc đầu tư của Nhà nước ngoài việc tính theo đầu học sinh, cần nhân thêm hệ số khó khăn cho từng vùng để bảo đảm tính công bằng trong cả nước. Tập trung kinh phí và kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng kinh phí đối với chương trình phổ cập trung học cơ sở và củng cố kết quả phổ cập giáo dục tiểu học, cũng như quản lý chặt chẽ các nguồn kinh phí khác đầu tư cho các tỉnh khó khăn. Miễn các khoản đóng góp cho học sinh các xã thuộc Chương trình 135, các xã được công nhận ATK, con em gia đình có công với cách mạng, gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

        Thứ ba, các tỉnh cần có kế hoạch cụ thể và cam kết thực hiện PCTHCS. Lồng ghép tốt các chương trình kinh tế xã hội với chương trình phát triển giáo dục để tránh trùng lặp gây lãng phí. Thực hiện tốt chính sách thu hút giáo viên về công tác tại những nơi đặc biệt khó khăn, đi đôi với việc chuyển vùng cho những giáo viên có nhu cầu chuyển vùng đã công tác lâu ở những nơi này.

        Thứ tư, Ban Khoa giáo và Bộ Giáo dục - Đào tạo chủ trì phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức một số hội nghị chỉ đạo công tác PCTHCS ở các vùng khó khăn. Vận động các tỉnh thuận lợi giúp đỡ các tỉnh khó khăn về cơ sở vật chất, thiết bị và giáo viên.

        Thứ năm, tiếp tục củng cố và nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh, huyện, đẩy mạnh công tác đào tạo nghề trong các trường DTNT. Các trường trung học phổ thông cần có chỗ ở nội trú cho học sinh ở xa trường.

        Thứ sáu, nghiên cứu và triển khai tốt việc học tiếng dân tộc (đối với những dân tộc đã có chữ viết). Trước mắt, cần mở rộng việc đào tạo đội ngũ giáo viên dạy song ngữ tại một số trường cao đẳng sư phạm ở những vùng có đông đồng bào dân tộc có chữ viết riêng. Tăng cường công tác kiểm tra, hạn chế tiến tới chấm dứt việc dạy chữ dân tộc ở ngoài nhà trường.

Giáo sư - Viện sĩ Phạm Minh Hạc

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,899,440


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs