Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 15/06/2005
Hệ thống trường Dân tộc Nội trú: Nơi tạo nguồn cán bộ ở Kon Tum


Giờ học trên lớp của học sinh trường Dân tộc nội trú huyện Sa Thầy (Kon Tum)

        Kon Tum là tỉnh miền núi, vùng cao nằm ở bắc Tây Nguyên, được tái lập lại từ tháng 10 năm 1991; diện tích tự nhiên gần 10 ngàn km2 , có đường biên giới dài 275 km tiếp giáp với hai nước bạn Lào và Campuchia; có 8 đơn vị hành chính cấp huyện với 82 xã, phường, thị trấn, 755 thôn, làng (trong đó có 54 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn, biên giới); dân số khoảng 34 vạn người, với 28 dân tộc cùng sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc chiếm gần 54% dân số, mặt bằng học vấn thấp, nhiều tập tục lạc hậu chưa được đẩy lùi, 24,55% hộ nghèo, trong đó hộ nghèo thuộc đồng bào dân tộc thiểu số là 14.232 hộ, chiếm 82,9%.

         Với đặc thù là tỉnh miền núi, có đông đồng bào dân tộc thiểu số (gần 54%), ngay sau khi tái lập tỉnh, Tỉnh uỷ Kon Tum đã tập trung lãnh đạo đẩy mạnh đào tạo đội ngũ cán bộ dân tộc, trong đó xác định hệ thống trường dân tộc nội trú (DTNT) là nơi tạo nguồn cán bộ chủ yếu. Sau hơn 10 năm thực hiện, đến nay cấp tỉnh có 1 trường DTNT quy mô, bề thế; 6/8 huyện, thị xã đều đã có trường DTNT kiên cố, khang trang (thị xã Kon Tum chỉ có Phân hiệu trường DTNT  và huyện Kon Plong do mới thành lập). Đối với trường DTNT tỉnh hằng năm giảng dạy từ 350 - 400 em học sinh (chủ yếu là học sinh cấp III và một số ít cấp II); đối với trường huyện hằng năm giảng dạy khoảng 200 em học sinh (chủ yếu là học sinh cấp II và một số ít cấp III). Từ năm 1992 đến năm 2002, học sinh dân tộc của Kon Tum vào học tại các trường THCN, cao đẳng và đại học là 842 em. Khai giảng năm học 2002-2003, tổng số học sinh của tỉnh (bao gồm: mầm non, phổ thông, BTVH và CĐ-THCN) có 118.909 em, trong đó học sinh dân tộc là 68.533 em (chiếm 57,63%). Sự đóng góp của hệ thống trường DTNT nói riêng và giáo dục học sinh dân tộc nói chung trong thời gian qua là rất đáng kể trong việc tạo nguồn cán bộ cho tỉnh, góp phần trong việc từng bước nâng dần tỷ lệ cán bộ là người dân tộc trong đội ngũ cán bộ toàn tỉnh. Chỉ tính riêng trong 1.495 cán bộ bố trí theo cơ cấu 19 chức danh ở 82 xã, phường, thị trấn, thì cán bộ là người dân tộc thiểu số đã có 879 người (chiếm 59%). Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được bước đầu, công tác đào tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số nói chung, hoạt động của trường DTNT của tỉnh nói riêng vẫn còn những hạn chế cần sớm có giải pháp khắc phục.

        Năm 2000, mặc dù tỉnh được công nhận đạt chuẩn quốc gia về xoá mù chữ - phổ cập giáo dục tiểu học, song hiện nay để tiến tới hoàn thành phổ cập trung học cơ sở vào năm 2010, Kon Tum còn gặp rất nhiều khó khăn. Bởi lẽ, kết quả chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học ở vùng sâu, vùng xa chưa vững chắc, nguy cơ tái mù còn lớn. Hiện nay, khoảng 30% trong số đã xoá mù tái mù chữ. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp tiểu học đúng độ tuổi mới đạt 41,4%, so với chuẩn thì còn quá thấp; tỷ lệ học sinh tiểu học lưu ban, bỏ học là người dân tộc thiểu số còn cao. Mặt khác, công tác triển khai thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở còn chậm, kết quả đạt được còn rất hạn chế. Tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học ở các trường THCS bình quân khoảng trên 10-15%/năm. Học sinh vùng sâu, vùng xa khi tốt nghiệp tiểu học thiếu điều kiện để theo học tiếp bậc THCS do trường học xa, điều kiện kinh tế khó khăn... Năm 2001, còn 27/82 (22,14%) xã, phường, thị trấn chưa có trường THCS. Trong khi đó, số người trong diện phổ cập giáo dục THCS (không chính quy) chiếm tỷ lệ rất cao, toàn tỉnh là 35% (35 ngàn/110 ngàn người trong độ tuổi phổ cập); tỷ lệ bỏ học của học sinh THCS ở Kon Tum là trên 10%/năm.

        Như vậy, trung bình hằng năm Kon Tum có khoảng 35-45% số người trong diện phải phổ cập THCS. Năm 2002, chỉ có 5/82 đơn vị cấp xã, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS. Hệ quả tất yếu là công tác phổ cập giáo dục THCS gặp không ít khó khăn.

        Mặt khác, là tỉnh có dân số là đồng bào các dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao, song đội ngũ cán bộ là người tại chỗ còn ít. Chẳng hạn như, trong Ban Chấp hành Đoàn thanh niên tỉnh có 25 người thì chỉ có 2 người là dân tộc thiểu số, BCH Hội Nông dân tỉnh có 21 người thì chỉ có 3 người là dân tộc thiểu số... Trong đại biểu HĐND cấp tỉnh có 45 người thì dân tộc thiểu số có 19; cán bộ cấp huyện có 185 người thì dân tộc thiểu số có 88; cấp xã, phường có 1.636 người thì dân tộc thiểu số có 1.033. Về chất lượng, năm học 2001-2002, toàn tỉnh có hơn 2.000 học sinh tốt nghiệp THPT, nhưng học sinh dân tộc thiểu số chỉ có 210 em (khoảng 10%), trong khi dân số lại chiếm đến gần 54% dân số toàn tỉnh. Theo Sở GD-ĐT thì lý do chủ yếu là từ cuối cấp này sang đầu cấp kia (Ví dụ như: từ cuối cấp tiểu học sang đầu cấp THCS) số lượng học sinh dân tộc thiểu số bỏ học khoảng trên 50%; riêng cán bộ bố trí theo cơ cấu 19 chức danh ở 82 xã, phường, thị trấn hiện nay là 1495 người (dân tộc thiểu số có 879 người), trong đó trình độ văn hoá cấp I có 418, cấp II có 773, cấp III có 308...

        Trong công cuộc đổi mới hiện nay, khi cả nước tiến hành đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước, Đảng ta càng đặc biệt quan tâm đến đội ngũ cán bộ cả về số lượng, chất lượng, cả về trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ và cả về lý luận, chính trị nhằm xây dựng một đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4-2001) đã chỉ rõ mục tiêu của công tác cán bộ là “Xây dựng đội ngũ cán bộ... vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn, gắn bó với nhân dân”.

        Đặc biệt, sau “sự kiện tháng 2- 2001” ở Tây Nguyên, công tác đào tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số ngang tầm nhiệm vụ lại càng được quan tâm, coi trọng.

        Để nâng cao chất lượng đào tạo học sinh dân tộc thiểu số trong các trường DTNT ở Kon Tum nói riêng và Tây Nguyên nói chung, góp phần đáp ứng yêu cầu mới về tạo nguồn đào tạo cán bộ, cần tập trung vào những vấn đề sau:

        Các cấp uỷ, chính quyền địa phương cần thống nhất về mặt nhận thức hệ thống trường DTNT là nơi đào tạo nguồn cán bộ người dân tộc thiểu số cho địa phương. Đây là việc làm tiếp nối tư tưởng và quan điểm đúng đắn của Bác Hồ và của Đảng ta trong suốt các thời kỳ cách mạng. Chính nhờ chủ trương sáng suốt này mà sau năm 1975, đất nước được thống nhất, chúng ta mới có 25.000 cán bộ là học sinh miền Nam ra Bắc học tập nay trở về công tác, phục vụ nhân dân kịp thời. Không nên có tư tưởng cho hệ thống trường DTNT là nơi thực hiện sự công bằng xã hội “một cách cào bằng”, là nơi thể hiện “sự mang ơn” đối với những người có công lao đối với cách mạng... Chỉ có nhận thức đúng thì mới đặt trường DTNT ngang tầm nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước đã giao cho.

        Sinh thời Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng căn dặn giáo dục phải làm sao cho “Trường ra trường, trò ra trò”. Hiện nay, ở Kon Tum các trường DTNT tỉnh và huyện đều được xây dựng kiên cố, khang trang (ngoài thị xã và huyện Kon Plong chưa có trường). Tuy nhiên, đó chỉ mới là “phần cứng”, vấn đề còn lại cần phải tiếp tục thực hiện là trang thiết bị bên trong cho dạy và học và nhất là làm sao tạo cảnh quan môi trường giáo dục trong khuôn viên nhà trường. Qua theo dõi, chúng tôi được biết tâm lý sinh hoạt của các em học sinh dân tộc thiểu số không giống học sinh Kinh, các em thích môi trường gần thiên nhiên vốn có ở quê mình; thích tham gia các môn thể thao cơ bắp như bóng đá, bóng chuyền, thích đi dã ngoại... chứ hoàn toàn không muốn bị gò bó trong khuôn khổ 4 bức tường rào bằng xi măng khô khốc của trường. Đã có hiện tượng một số em bỏ học về nhà chỉ vì lý do duy nhất là bị  ức chế tâm lý trong sinh hoạt hằng ngày. Bởi lẽ, trong các em dù muốn hay không vẫn không thể xoá ngay nếp nghĩ cách sống “phóng khoáng trong không gian thiên nhiên núi rừng bao la, hùng vĩ” được.

        Riêng đối với Kon Tum, tỉnh duy nhất của cả nước ở cấp huyện không có trường THPT. Hiện nay ở tất cả các trường DTNT huyện đều phải gánh bình quân trên 10 lớp cấp 3 (huyện Đăm Hà, trường DTNT huyện chỉ có trên dưới 200 học sinh dân tộc thiểu số, trong khi học sinh cấp 3 ghép vào là 1.500 em). Do đó, cần sớm tách cấp 3 ra khỏi trường DTNT, trả lại môi trường đúng nghĩa cho hệ thống trường DTNT.

        Muốn có nguồn “đầu vào” đảm bảo chất lượng cho trường DTNT, thì không những phải tăng cường công tác quản lý, dạy và học ở ngay tại các trường DTNT cấp huyện và tỉnh, mà giải pháp lâu dài, có tính bền vững là phải tập trung nâng cao chất lượng giáo dục một cách toàn diện ở cơ sở, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Bởi trẻ em người dân tộc thiểu số sinh ra ít được tiếp xúc với môi trường bên ngoài, do đó vốn ngôn ngữ phổ thông (tức tiếng Việt) rất hạn chế. Để khắc phục tồn tại này, phải đẩy mạnh giáo dục mầm non, đặc biệt là phải huy động tối đa trẻ em đến lớp mẫu giáo 5 tuổi nhằm tạo tâm thế cho các em bước vào lớp 1 một cách tự tin, không bỡ ngỡ. Đối với vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải tuân thủ quan điểm “kinh tế hộ, giáo dục làng”. Nếu chúng ta không phủ kín hệ thống trường, lớp ở từng thôn, làng thì tỷ lệ huy động học sinh ra lớp sẽ không thể cao được. Bởi vì đặc thù của Tây Nguyên là đất rộng, người thưa, làng cách làng có khi phải đi bộ cả buổi mới tới.

        Do điều kiện đời sống của đại bộ phận người dân tộc còn nhiều khó khăn, khoảng cách từ làng đến trung tâm xã xa, lại qua núi, đồi... nên giải pháp đẩy mạnh hình thức giáo dục bán trú xã là rất quan trọng (cụ thể là mỗi buổi trưa nên tạo điều kiện về chỗ ở, và mức ăn trưa khoảng 2.000-3.000 đ/em). Làm được điều này sẽ chống bỏ học giữa chừng trong học sinh dân tộc; chống suy dinh dưỡng; tăng thời gian học tập/ngày. Học bán trú các em sẽ có điều kiện làm quen, sau đó thích nghi với môi trường giáo dục tập thể, sau này khi vào trường DTNT huyện các em không bỡ ngỡ; và cũng chính môi trường này, nếu các nhà trường linh hoạt thì sẽ vận dụng kết hợp giáo dục cho các em những nội dung như: chính trị, tư tưởng, truyền thống, pháp luật, an ninh quốc phòng...

        Trường DTNT là nơi đào tạo nguồn cán bộ dân tộc thiểu số của tỉnh, cho nên phải lưu ý “tính chính trị” trong quá trình tuyển chọn “đầu vào”; mặt khác, các chi bộ nhà trường cần đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên mới trong học sinh (theo tinh thần Chỉ thị 34-CT/TW của Bộ Chính trị), ít nhất các em cũng được qua lớp cảm tình đảng tại trường. Đồng thời, phải đẩy mạnh công tác phân luồng học sinh sau THCS (góp phần bổ sung cho đội ngũ cán bộ xã, thôn) và phân luồng học sinh sau THPT (góp phần bổ sung cho đội ngũ cán bộ huyện, xã). Với giải pháp này sẽ giải quyết được vấn đề quá tải, dồn lên trường cấp trên; mặt khác bổ sung cho các địa phương một đội ngũ cán bộ phù hợp từng cấp, vừa được đào tạo cơ bản về học vấn, vừa đảm bảo cả yếu tố chính trị trong cán bộ.

        Số học sinh còn lại (khi đã đẩy mạnh phân luồng sau THCS và THPT) cần được tiếp tục đào tạo để sau  này trở thành những cán bộ chủ chốt của huyện, của tỉnh. Muốn vậy, nhiệm vụ của trường DTNT tỉnh không chỉ dừng lại ở việc tổ chức thi tốt nghiệp là xong, mà phải thực hiện đào tạo liên thông với các trường cao đẳng, đại học, nhất là các trường dự bị dân tộc, trên cơ sở có sự định hướng ngành, nghề thật cụ thể, phù hợp đối với từng em của nhà trường và các cơ quan hữu quan của tỉnh. Đối với đối tượng học sinh này, đề nghị hình thức duy nhất là cử tuyển gắn với xét tuyển. Bởi vì, qua thực tế trường DTNT tỉnh Kon Tum cho thấy, trong 3 năm (từ 1999-2000 đến 2001-2002), tổng số học sinh dân tộc của trường tốt nghiệp cấp III là 188 em, nhưng vào đại học (chính quy) chỉ có 4 em, cao đẳng 15 em, THCN 20 em, dự bị đại học Nha Trang 37 em.

Nguyễn Phi Em
Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Kon Tum

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,899,588


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs