Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 14/06/2005
Sau hai năm thực hiện chương trình dân tộc ở tỉnh An Giang: Cuộc sống đồng bào Khmer dần được nâng cao
        Tỉnh An Giang có 81.367 đồng bào dân tộc Khmer sống tập trung tại hai huyện miền núi Tịnh Biên và Tri Tôn; một số ít cư trú ở các huyện Châu Thành, Thoại Sơn và Châu Phú. Đồng bào Khmer ở Tri Tôn và Tịnh Biên chủ yếu sống bằng nông nghiệp, cư ngụ theo phum sóc, trình độ dân trí thấp, đời sống còn gặp nhiều khó khăn do việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và vốn đầu tư vào sản xuất còn hạn chế dẫn đến sản xuất không hiệu quả, năng suất thấp, đất bỏ hoang nhiều năm liên tục, lao động không có việc làm còn cao, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp chưa phát triển. Mặt khác, Tịnh Biên và Tri Tôn nằm ở trung tâm Tứ giác Long Xuyên, đất nhiễm phèn nặng, vì vậy bà con Khmer chỉ canh tác mỗi năm một vụ lúa vào mùa nổi theo từng vùng ở những nơi gò cao, năng suất rất thấp, bấp bênh (0,8-1 tấn/ha/năm), có năm mất trắng nên bà con canh tác không liên tục.

         Thực hiện “Chương trình dân tộc”, huyện Tịnh Biên và huyện Tri Tôn tập trung 80% lực lượng cán bộ, đảng viên để đẩy mạnh công tác tuyên truyền trong đồng bào dân tộc Khmer, khảo sát nắm hoàn cảnh kinh tế, nhu cầu của đồng bào để có biện pháp giải quyết phù hợp với nhu cầu, khả năng và trình độ sản xuất của từng hộ. Mỗi huyện đều tổ chức tổ công tác vận động quần chúng, tổ giải quyết tranh chấp, tổ hướng dẫn kỹ thuật canh tác lúa hai vụ cho bà con Khmer (tỉnh cũng thành lập 2 đoàn cán bộ gồm các ngành chức năng để hỗ trợ huyện thực hiện chương trình này). Việc cấp đất cho đồng bào được thực hiện theo phương châm cấp đất đến đâu tổ chức sản xuất đến đó, không để đất hoang hoá. Theo hướng này, huyện Tịnh Biên đã xét cấp đất cho 1.902 hộ với 899,95 ha, cho 117 hộ vay 515.130.000 đồng chuộc 38,06 ha đất và cho 402 hộ vay 1 tỷ 970 triệu đồng để chăn nuôi bò. Huyện Tri Tôn đã xét cấp cho 2.678 hộ với 1.572 ha; cho các hộ có khả năng chăn nuôi vay 2 tỷ 774 triệu đồng chăn nuôi 1.134 con bò thịt, hỗ trợ 1.094 hộ 130 tấn thóc giống, cho 425 hộ thiếu vốn vay 1 tỷ 196,3 triệu đồng đầu tư sản xuất; đồng thời xét cấp cho 1.800 hộ Khmer nghèo ở 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên 1.800 nhà ở trị giá 8,1 tỷ đồng. Số hộ nhận đất được tổ chức vào tổ liên kết sản xuất để giúp nhau trong việc chuyển giao khoa học công nghệ mới vào sản xuất.

        Nhằm giúp bà con Khmer sản xuất có hiệu quả, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên đã cấp cho bà con 650 máy sạ hàng và 30 túi Biogaz; tổ chức 61 cuộc tập huấn kỹ thuật cho 2.999 nông dân Khmer gồm các chương trình trồng sắn, phòng trừ sâu bệnh, kỹ thuật chăn nuôi bò thịt, kỹ năng tạo giống lúa và trồng lúa thơm; tổ chức 21 cuộc hội thảo và 54 điểm trình diễn về trồng bông vải, về sử dụng nông dược có hiệu quả… Với việc triển khai đồng bộ các biện pháp trên, đến nay phần lớn diện tích đất cấp cho bà con dân tộc Khmer ở 2 huyện Tịnh Biên và Tri Tôn đều được tổ chức sản xuất có hiệu quả, năng suất cao, bình quân 4,5-5 tấn/ha/vụ, góp phần ổn định đời sống bà con dân tộc Khmer tại địa phương. Ngoài áp dụng kỹ thuật trồng sắn trên vùng đất cát đạt hiệu quả kinh tế cao, bà con Khmer còn được chuyển giao công nghệ mới về khai thác nước thốt nốt và sản xuất đường thốt nốt có chất lượng và hiệu quả kinh tế. Các ngành nghề truyền thống như dệt thổ cẩm cũng được khôi phục, góp phần tăng thu nhập cho các hộ nông dân.

        Về xây dựng cơ sở hạ tầng trong vùng đồng bào dân tộc Khmer, chương trình này đã đầu tư 55 tỷ 29 triệu đồng, trong đó đầu tư 19 tỷ 84 triệu đồng nâng cấp, cải tạo đường vòng Núi Tượng, tuyến Ba Chúc - Sóc Tức, đường vào chùa Nam Quy, xây dựng hương lộ 15 nối liền xã Cô Tô và xã Ô Lâm (thuộc huyện Tri Tôn); xây dựng đường Mỹ á (thị trấn Chi Lăng), đường hương lộ 6 nối liền các xã An Phú - An Cư - Văn Giáo - Thới Sơn - Nhà Bàn (thuộc huyện Tịnh Biên)…; đồng thời xây dựng và cải tạo nâng cấp 5 công trình thuỷ lợi lớn: cải tạo hệ thống trạm bơm Lương Phi, Châu Lăng (Tri Tôn); nâng cấp hồ cấp nước Cây Đuốc, xây dựng trạm bơm Văn Râu, xây dựng trạm bơm Tà Móc (Tịnh Biên). Những công trình thuỷ lợi này sau khi hoàn thành cùng với trạm bơm 3/2, một công trình thuỷ lợi vùng cao do Chính phủ đầu tư 34 tỷ đồng đảm bảo nước tưới sản xuất và nước sinh hoạt cho hầu hết 23 xã vùng đồng bào dân tộc Khmer sinh sống. Huyện Tri Tôn còn đầu tư 7,35 tỷ đồng để xây dựng 6,22 km đường dây trung thế, 55,19 km đường dây hạ thế; nhờ vậy đã có 850 hộ dân tộc Khmer ở các xã Ô Lâm, Lương Phi, Châu Lăng, An Tức… được sử dụng điện; đầu tư xây dựng mới 7 hệ thống cấp nước sạch cho các xã Châu Lăng, An Tức, Ô Lâm, Núi Tô, thị trấn Tri Tôn; xây thêm 120 giếng khoan cho những phum sóc ở vùng cao; đầu tư gần 5 tỷ đồng xây dựng cơ sở vật chất mua sắm thiết bị trường học, trùng tu nâng cấp trường dân tộc nội trú, xây dựng hai tụ điểm văn hóa thể thao, hệ thống trạm truyền thanh các xã. Huyện Tịnh Biên cũng thực hiện 17 hạng mục công trình nước và 27 hạng mục công trình điện phục vụ bà con Khmer phát triển sản xuất và đời sống.

        Nhằm nâng cao dân trí cho đồng bào dân tộc Khmer, học sinh là con em đồng bào Khmer cũng được miễn học phí và miễn đóng góp các loại quỹ, được cung cấp sách giáo khoa và nhiều loại học cụ khác. Học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú được hưởng học bổng 120.000 đồng/tháng, được hỗ trợ tập sách, bảo hiểm y tế. Học sinh nghèo còn được hỗ trợ thêm 300.000 đồng/em… Tỉnh cũng tích cực đào tạo giáo viên là người Khmer nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục trong dân tộc Khmer. Đội ngũ giáo viên là người Khmer nhờ vậy đã tăng từ 138 giáo viên trong năm học 1996-1997 lên 261 giáo viên trong năm học vừa qua. Số học sinh Khmer phổ thông tăng nhanh, nhất là bậc trung học. Năm học 1996-1997 chỉ có 15.838 học sinh phổ thông, trong đó có 2.225 học sinh trung học thì năm học 2002-2003 đã tăng lên 19.283 học sinh phổ thông và 7.434 học sinh trung học. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông ngày càng tăng. Số người Khmer mù chữ trong độ tuổi từ 15-25 giảm nhanh, từ 1.925 người (năm 1997) giảm xuống còn 658 người (năm 2002). Tỷ lệ huy động trẻ em Khmer đến trường đạt hơn 90%. Nhiều học sinh con em đồng bào Khmer được vào trường đại học theo chế độ cử tuyển. Đa số học sinh Khmer bậc tiểu học từ lớp 3 trở lên có nguyện vọng học tiếng dân tộc đều được đáp ứng. Với những cố gắng trên, năm 1998, An Giang đã được công nhận hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học.

        Điều ghi nhận là: qua hơn 2 năm thực hiện chương trình dân tộc, đời sống đồng bào dân tộc Khmer ở 2 huyện Tịnh Biên và Tri Tôn đã được nâng lên rõ rệt, bà con dân tộc Khmer rất phấn khởi, tích cực lao động sản xuất. Bà con đã biết áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ để nâng cao hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế xã hội và ổn định an ninh chính trị địa phương.

Tố Quyên

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,901,242


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.3 secs