Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 27/04/2005
Đổi mới đi lên trong cuộc sống của đồng bào dân tộc ở miền núitỉnh Quảng Nam


Giờ học của học sinh lớp 2 Trường Tiểu học Kon Pne.

Nguyễn Xuân Phúc Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam

Khác với Tây Nguyên và vùng miền núi của các tỉnh duyên hải miền Trung, miền núi Quảng Ngãi có địa hình phức tạp và hiểm trở. Núi cao, sông suối chằng chịt, chia cắt. Toàn tỉnh có 113/225 xã được Chính phủ công nhận là xã miền núi trong đó có 63 xã đặc biệt khó khăn; 2/3 số xã thuộc vùng sâu, vùng xa; vùng núi chiếm trên 80% diện tích toàn tỉnh. Thực trạng miền núi tỉnh Quảng Nam yếu tố khó khăn nhiều hơn là yếu tố thuận lợi, nhất là trong lĩnh vực phát triển giao thông vận tải, tổ chức sản xuất, giao lưu kinh tế, văn hoá… Theo những cứ liệu về khoa học lịch sử, về dân tộc học thì vùng cao tỉnh Quảng Nam là địa bàn cư trú lâu đời của 4 thành phần dân tộc thiểu số anh em: Cơ Tu, Jẻ Triêng (gồm các nhóm địa phương: Bhnoong, Ve, Triêng, Jẻ), Xơ Đăng (gồm các nhóm địa phương: Ca Dong, Xơ Teng, Mơ Năm) và Co. Bản chất của đồng bào cần cù, dũng cảm, chịu khó, tin yêu Đảng, Bác Hồ. Song do địa bàn cư trú khắc nghiệt, cộng với chính sách phân biệt đối xử của các chế độ phong kiến và thực dân trước đây đã làm cho xã hội vùng cao và một bộ phận vùng miền núi tỉnh Quảng Nam phát triển chậm. Mật độ dân số trung bình nơi cao nhất là 48 người/km2, thấp nhất là 18 người/km2. Hiện tại trình độ lực lượng sản xuất vùng này vẫn còn thấp kém, trực tiếp ảnh hưởng đến việc đưa đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống của đồng bào nhất là việc phát triển kinh tế, thực hiện chính sách dân tộc. Từ sau ngày đất nước được hoàn toàn giải phóng, Đảng bộ Quảng Nam đã chú trọng đến việc chăm lo đời sống cho đồng bào, xây dựng phát triển kinh tế - xã hội miền núi trên cơ sở nghiên cứu vận dụng chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Trong từng nhiệm kỳ, Tỉnh uỷ đều có Nghị quyết chuyên đề. Qua 30 năm phấn đấu, nhiều mục tiêu cơ bản của các Nghị quyết Tỉnh uỷ về phát triển kinh tế - xã hội miền núi đã đạt được những thành tựu khả quan như: Tình trạng du canh, du cư quy mô làng được xoá bỏ, phần lớn hộ gia đình đã đi vào định canh định cư; phong trào khai hoang mở rộng diện tích lúa nước phát triển đều khắp. Từ chỗ chỉ có một vài diện tích nhỏ canh tác lúa nước thì đến nay đã có trên 2020 ha; hầu hết các xã vùng cao đều có ruộng lúa nước, nhiều nơi làm hai vụ, đồng bào đã thay đổi một bước về tập quán canh tác nông nghiệp, ứng dụng được một số tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất như: đưa giống mới, dùng phân bón, các biện pháp chăm sóc… Thực tế cho thấy, ở vùng cao tỉnh Quảng Nam làng nào có ruộng lúa nước thì làng đó cơ bản giải quyết được lương thực tại chỗ và định canh định cư ổn định. Thời gian qua ở vùng cao cũng đã đưa được một số giống cây trồng, vật nuôi mới như cây dó, cây quế, bò lai sind, gà Tam Hoàng, cá nước ngọt… vào trồng trọt, chăn nuôi có hiệu quả rõ rệt. Một số mô hình sản xuất trên đất dốc xuất hiện ở Đông Giang. Chủ trương giao đất, giao rừng cho làng quản lý, bảo vệ, chăm sóc, hưởng lợi được triển khai đồng thời với việc sắp xếp lại các nông, lâm trường, chuyển giao phần lớn quỹ đất lại cho địa phương, cho dân. Đây là những bước tiến quan trọng trong việc chuyển đổi tập quán sản xuất, đẩy mạnh phát triển sản xuất ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong những năm gần đây. Phong trào giao thông nông thôn phát triển mạnh, đều khắp và hướng lên vùng cao, với phương châm giao thông đi trước một bước nên hiện nay các huyện vùng cao về mùa khô ôtô đến được phần lớn các xã. Do đa dạng hoá các thành phần kinh tế tham gia hoạt động thương mại miền núi nên các mặt hàng thiết yếu đã đưa đến tận vùng xa xôi, hẻo lánh phục vụ đồng bào và thu mua các nông lâm sản của đồng bào sản xuất ra góp phần khuyến khích sản xuất tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho bà con các dân tộc. Quảng Nam cũng đã tập trung xây dựng, phát triển các thị trấn huyện lỵ, các trung tâm cụm xã nên đã tạo ra được các trục động lực của từng huyện, thúc đẩy thị trường nông thôn miền núi ra đời, kinh tế xã hội trong vùng phát triển. Song song với tăng trưởng kinh tế, tỉnh cũng đặc biệt coi trọng việc nâng cao đời sống tinh thần cho đồng bào các huyện miền núi. Công tác bảo tồn, giữ gìn bẳn sắc, tinh hoa văn hoá của từng dân tộc và xoá bỏ phong tục, tập quán lạc hậu xây dựng đời sống văn hoá mới đang được phát huy; đã xuất hiện một số mô hình làng văn hoá; không còn xã “trắng” y tế, thôn “trắng” giáo dục. Năm 1997, ở vùng cao tính bình quân cứ 7,36 người dân có một người đi học thì nay 3,60 người dân có một người đi học. Đội ngũ y tế thôn bản đã làm tốt công tác chăm sóc sức khoẻ tại chỗ cho đồng bào, đội ngũ này khoảng 500 người đều là người dân tộc thiểu số nên có lợi thế là gắn bó với bản làng. Đội ngũ giáo viên là người dân tộc thiểu số có 152 người trong tổng số 2.046 giáo viên miền núi, vùng cao. Trẻ em là người dân tộc thiểu số trong độ tuổi đến trường đạt gần 100%. Mục tiêu kiên cố hoá trường học, trạm xá được chú trọng chỉ đạo và thực hiện tốt. Nhờ nhận thức và tổ chức thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, ưu tiên hàng đầu là cải thiện, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho đồng bào nên những năm qua, tình hình an ninh chính trị- trật tự xã hội trên địa bàn miền núi, đặc biệt là vùng cao, biên giới được ổn định và giữ vững; mối quan hệ thân thiện giữa đồng bào vùng biên giới tỉnh Quảng Nam với đồng bào biên giới tỉnh bạn của Lào được tăng cường và củng cố; các dân tộc thiểu số trong tỉnh đoàn kết, gắn bó cùng nhau xây dựng làng, thôn vững mạnh. Tuy nhiên, so với yêu cầu đặt ra của sự nghiệp phát triển dân tộc và miền núi hiện nay và so với mục tiêu mà Nghị quyết Trung ương 7 (khoá IX) về công tác dân tộc đặt ra thì tốc độ tăng trưởng và phát triển vùng miền núi tỉnh Quảng Nam còn chậm. Hiện nay Trung ương cũng như địa phương đặc biệt quan tâm đối với miền núi. Thể hiện bằng các chủ trương, chính sách, rõ nhất là sự bố trí, cân đối nguồn lực cho sự phát triển miền núi hằng năm. Các chương trình dự án đầu tư, hỗ trợ cụ thể cho miền núi nhằm vào những khâu then chốt, động lực và có tính khả thi cao. Song, yếu tố nội sinh, việc phát huy vai trò của cấp uỷ, chính quyền cơ sở và của người dân còn bất cập chưa tương xứng, chưa tạo nên sức mạnh tổng hợp làm thay đổi mang tính cơ bản kinh tế xã hội miền núi. Để giải quyết được mâu thuẫn trên tiến tới sự tăng trưởng và phát triển bền vững cho miền núi đặc biệt là vùng cao dân tộc thiểu số, thời gian tới tỉnh Quảng Nam tập trung giải quyết những vấn đề sau: Một là, chủ động giải quyết lương thực tại chỗ theo phương châm: “Tích cốc phòng cơ”. Đẩy mạnh khai hoang ở những vùng cây bụi, dây leo, bình độ thấp, phát triển mạnh diện tích lúa nước theo hình thức ruộng bậc thang; tận dụng mọi ưu thế về nguồn nước để phát triển ruộng theo mô hình này. Tận dụng đất bằng ven sông suối để trồng cây màu, cây thực phẩm, hạn chế tối đa việc sản xuất lúa bằng nương rẫy, qua đó để bảo vệ, phát triển rừng. Hai là, Nghiên cứu thực hiện một cách phù hợp, khoa học việc giao đất, giao rừng cho làng và trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc. Ưu tiên đồng bào tại chỗ trong quản lý, chăm sóc, bảo vệ và hưởng lợi từ rừng, để rừng thật sự có chủ, trở thành tư liệu sản xuất chủ yếu với đồng bào. Hiện nay, tỉnh Quảng Nam có khoảng trên 350.000 ha đất trống, đồi núi trọc, phần lớn nằm ở 6 huyện vùng cao trong lúc lực lượng lao động ở vùng này kể cả đồng bào tại chỗ và lâm trường đóng trên địa bàn không nhiều nên việc khoanh nuôi, bảo vệ tái sinh rừng ở vùng này là giải pháp hàng đầu còn vấn đề trồng mới vẫn được đề cập một cách thích hợp. Ba là, đầu tư phát triển giao thông miền núi, tập trung phát triển đường bộ bằng nhiều loại hình, đảm bảo đến 2005, có đường giao thông cơ giới đến trung tâm cụm xã. Quảng Nam có 49 trung tâm cụm xã, phần lớn các trung tâm này nằm ở khu vực II và III có địa hình bất lợi trong việc phát triển giao thông cơ giới đường bộ nên suất đầu tư rất cao và độ rửa trôi, sạt lở về mùa mưa rất lớn. Nên xuất phát từ nhu cầu lưu thông người và hàng hoá làm tốt việc quy hoạch phát triển giao thông bằng đường ôtô. Giao thông gắn chặt với vận tải để phục vụ cho sự phát triển miền núi, tạo điều kiện cho sức sản xuất phát triển nhanh; phấn đấu mở nhanh đường ôtô đến 12 xã còn lại. Phát triển mạnh phương tiện vận tải bằng xe gắn máy 2 bánh, nhằm giải phóng, tiêu thụ hàng nông sản tồn đọng trong dân và đưa các mặt hàng thiết yếu đến phục vụ đồng bào góp phần kích thích trực tiếp cho sự phát triển kinh tế xã hội vùng cao. Bốn là, tiếp nhận và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia đầu tư, hỗ trợ trên địa bàn miền núi của tỉnh. Hiện nay, hàng năm nguồn vốn ngân sách Nhà nước, vốn đầu tư, hỗ trợ phát triển của nước ngoài cho vùng núi tỉnh Quảng Nam không dưới 100 tỷ đồng. Trong mấy năm qua, việc tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu này phần lớn là dùng phương pháp làm thay. Với điều kiện, hoàn cảnh miền núi tỉnh Quảng Nam hiện nay thì việc dùng phương pháp làm thay là tất yếu, nhanh đạt đến kết quả. Song cách làm này cũng đã bộc lộ những thiếu sót đó là, vai trò chủ thể chưa gắn bó với các chương trình, dự án đầu tư, có nơi chủ thể còn đứng ngoài cuộc. Mỗi chương trình, dự án đầu tư có chủ dự án riêng, nguồn vốn riêng theo các kênh và cơ chế quản lý vận hành khác nhau nên khó lồng ghép để phát huy hiệu quả. Vấn đề công khai, dân chủ hoá trong quá trình đầu tư phát triển cũng còn nhiều khiếm khuyết, thiếu sự tập trung, đồng bộ. Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên sẽ được các cấp của tỉnh khắc phục để đảm bảo các chương trình, dự án đầu tư, hỗ trợ miền núi có hiệu quả, đạt được mục tiêu đề ra. Theo đó tỉnh Quảng Nam sẽ tập trung đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cho miền núi đặc biệt là cán bộ xã thật cơ bản, để nhanh chóng khắc phục tình trạng làm thay này. Đồng thời, tạo mọi điều kiện để người dân tại chỗ tham gia vào việc thực hiện và quản lý các chương trình, dự án nhằm gắn kết và tăng cường trách nhiệm của chủ thể quản lý với mục tiêu của chương trình, dự án; qua đó thu nhập góp phần xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống cho người dân tại chỗ. Năm là, tăng cường đào tạo cán bộ, xây dựng thực lực chính trị cho miền núi. Hiện nay, đội ngũ cán bộ ở miền núi tỉnh Quảng Nam đặc biệt là đội ngũ cán bộ xã còn thiếu về số lượng và yếu về nhiều mặt. Qua điều tra cho thấy đội ngũ cán bộ xã có được tăng cường về số lượng song năng lực quản lý điều hành xây dựng phát triển kinh tế xã hội còn yếu; sự điều hành, quản lý còn lỏng lẻo. Do không xác định được nội dung lãnh đạo, quản lý nên họ thường làm việc rời rạc, cầm chừng, đến đâu hay đến đó, hiệu quả thấp. Do đó, trước mắt ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng cơ bản và cấp tốc cho đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế, quản lý nhà nước, quản lý xã hội nhất là ở cấp xã. Nội dung thiết thực, ngắn gọn dễ hiểu tập trung vào những điểm cơ bản về quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, quản lý và giám sát các chương trình, dự án đầu tư, hỗ trợ trực tiếp trên địa bàn xã. Thường xuyên củng cố kiện toàn tổ chức cơ sở Đảng, tăng cường các hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân theo hướng đổi mới nội dung và hình thức giáo dục vận động. Tranh thủ lực lượng già làng, trưởng bản có uy tín trong đồng bào dân tộc tạo điều kiện thích hợp và có chính sách đãi ngộ đúng mức để lực lượng này nắm được chủ trương, đường lối, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, có cơ sở vận động nhân dân thực hiện. Cán bộ các cấp từ tỉnh đến cơ sở có liên quan đến công tác vận động quần chúng trong vùng dân tộc, nhất là đội ngũ giáo viên, y tế phải được học tiếng dân tộc và hiểu biết chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước để tham gia vào công tác dân tộc.

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,894,838


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs