Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 26/04/2005
Địa bàn cư trú của đồng bào các dân tộc thiểu số giữ vị trí chiến lược trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Thiếu tướng, Triệu Xuân Hoà Phó Tư lệnh Quân khu 7

Địa bàn cư trú của đồng bào các dân tộc thiểu số trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước chạy dài từ vĩ tuyến 17, dọc theo dãy Trường Sơn, xuyên suốt các tỉnh miền Đông, miền Tây Nam Bộ. Có vị trí chiến lược quan trọng, do chế ngự miền duyên hải Trung Bộ về phía đông, cùng lưu vực đồng bằng Cửu Long về phía Tây và Tây Nam; vừa có thế liên hoàn, nối liền chiến trường ba nước Đông Dương: Việt Nam - Lào - Campuchia. Và đây là địa bàn có nhiều ưu thế để xây dựng các căn cứ địa và hậu phương kháng chiến, làm “địa bàn đứng chân để xây dựng lực lượng, là nguồn cung cấp, tiếp tế, là bàn đạp tiến công của lực lượng vũ trang cách mạng trong khởi nghĩa vũ trang. Từ các căn cứ địa kháng chiến, với vai trò là vị trí bàn đạp, các lực lượng vũ trang có thể tổ chức nhiều cuộc tiến công vào các đơn vị, căn cứ và hậu cứ địch. Đồng thời, đây cũng là chiến trường tiêu diệt hoả lực, sinh lực chủ lực của địch, một khi Mỹ- nguỵ mở các cuộc hành quân càn quét vào vùng căn cứ. Ngoài ra, với trên 1.000 km đường biên giới với Lào và Camphuchia, từ địa bàn cư trú của các tộc người thiểu số, lực lượng vũ trang ta có thể thiết lập một cách cơ động các hành lang vận chuyển chiến lược quan trọng từ căn cứ địa về các hướng chiến lược, đến các căn cứ khu vực, căn cứ du kích, vào cả căn cứ lõm. Hành lang phía Tây Trường Sơn (đường Hồ Chí Minh) chạy dọc theo lưu vực sông Mêkông, qua địa phận Lào- Campuchia và hành lang bên Đông Trường Sơn dựa vào các ô bình nguyên miền duyên hải kéo dài từ Trung Bộ vào Nam Bộ là những đường vận chuyển chiến lược chính từ hậu phương miền Bắc cho cả chiến trường miền Nam. Với hệ thống đường trục chính, cùng các đường nhánh dọc, ngang và hệ thống đường dẫn dầu (xây dựng vào cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ), hình thành hệ thống hậu cần bảo đảm cho toàn chiến trường (gồm hậu cần chiến lược, hậu cần khu vực, và hậu cần tại chỗ). Đường Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử oai hùng của dân tộc trên tuyến đầu chống Mỹ, với những tên sông, tên đất, tên rừng lưu danh sử sách như: Khe Sanh, A Lưới, A Sầu, Đăk To, Bến Giàng, Khâm Đức, Đăkpek, Bến Hét, Đức Cơ, Bản Đôn, Đức Lập, Buprăng, Phước Long, Lộc Ninh, Đồng Pan, Đồng Rùm, Tân Biên, Đồng Xoài, Đất Cuốc, Tân Uyên… Đặc biệt, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống đã là mái nhà của miền Nam, là lưng dựa của đồng bằng Nam Việt Nam và đồng bằng duyên hải, là cửa ngõ để tiến vào Sài Gòn và các thị trấn khác ở miền duyên hải. Lịch sử cuộc chiến tranh giải phóng (1945-1975), đã chứng minh tầm quan trọng chiến lược của Tây Nguyên. Trong kháng chiến chống Pháp để chia lửa với các chiến trường trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 và Điện Biên Phủ, ta đã mở chiến dịch Bắc Tây Nguyên (26/1 đến 20/7/1954), do Bộ Tư lệnh Liên khu V tổ chức, chỉ huy. Trong chiến dịch này quân dân mặt trận Tây Nguyên đã diệt gọn binh đoàn 100 và 15 tiểu đoàn khác; loại khỏi vòng chiến đấu 20.000 tên địch, bức rút 182 đồn bót, tháp canh. Ta giải phóng toàn bộ khu vực đường 19 và tỉnh Kon Tum, huyện An Khê và phần lớn tỉnh Gia Lai, với địa bàn khoảng 20.000km2, cùng nửa triệu dân; buộc Bộ chỉ huy Pháp phải phân tán lực lượng cơ động ra nhiều hướng, tạo điều kiện thuận lợi cho chiến dịch Điện Biên Phủ, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc. Trong kháng chiến chống Mỹ, một lần nữa chiến dịch Bắc Tây Nguyên được mở (từ 30/3 đến 5/6/1972). Đây là chiến dịch tiến công quy mô tương đương cấp quân đoàn đầu tiên trên chiến trường Tây Nguyên, đập tan tuyến phòng thủ kiên cố của Mỹ - nguỵ, ở Đăk Tô - Tân Cảnh, đánh quỵ Sư đoàn 22 và Lữ đoàn dù 2 quân nguỵ Sài Gòn. Đặc biệt chiến dịch Tây Nguyên (mở từ 4/3 đến 3/4/1975), đã mở đầu cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực quân đội Sài Gòn, giải phóng các tỉnh Nam Tây Nguyên, tạo thế chia cắt chiến lược, thực hiện kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước. Xuất phát từ vị trí chiến lược của vùng cư trú các dân tộc thiểu số ở Nam Bộ và cao nguyên Trung Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Đảng ta đã chủ trương đoàn kết các dân tộc thành một mặt trận thống nhất chống Mỹ, cứu nước. Chủ trương đúng đắn đó được thể hiện trong Chính sách 10 điểm của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam. Ngay phần mở đầu, đã khẳng định: “Nước Việt Nam là một nước có nhiều dân tộc. Tại miền Nam Việt Nam, dân tộc Kinh đã từng chung sống với khoảng 30 dân tộc anh em. Trải qua bao biến thiên lịch sử, các dân tộc đã gắn chặt với nhau trong tình anh em ruột thịt không sức gì lay chuyển được”. Và giải phóng dân tộc là một bộ phận khăng khít trong toàn bộ công cuộc giải phóng miền Nam của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của cả dân tộc Việt Nam. Theo Chương trình 10 điểm của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, công bố ngày 20 tháng 12 năm 1960, với tiêu chí: “Đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, các dân tộc, các đảng phái, các tôn giáo, các chiến sĩ yêu nước ở miền Nam Việt Nam, không phân biệt xu hướng chính trị, để đấu tranh đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tập đoàn tay sai của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, thực hiện độc lập dân chủ, cải thiện dân sinh, hoà bình, trung lập ở miền Nam, tiến tới hoà bình, thống nhất Tổ quốc”. Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, đã ban hành nhiều quy định cụ thể để nắm vững phương châm công tác dân tộc là: Kiên nhẫn, thận trọng, chắc chắn. Nội dung phương châm đó đòi hỏi tất cả cán bộ làm việc gì cũng phải tuân thủ nguyên tắc: “Hỏi ý kiến dân, bàn bạc với dân, phải vận động nhân dân tự giác, tự nguyện thi hành, (quyết không dùng mệnh lệnh ép buộc). Phải điều tra, nghiên cứu tình hình mọi mặt của từng địa phương để hoạch định chủ trương, kế hoạch công tác thích hợp với trình độ và hoàn cảnh nhân dân nơi đó, tránh áp dụng máy móc kinh nghiệm ở đồng bằng lên miền núi, của nơi phong trào khá vào nơi phong trào còn kém”. Nhờ vậy đã khơi dậy mạnh mẽ lòng yêu nước trong đồng bào các dân tộc, địa bàn vùng dân tộc và miền núi đã là nơi đùm bọc, che chở những cán bộ cách mạng, những đoàn quân giải phóng. Để chính trên vùng đất hùng vĩ, núi non điệp trùng này chiến công nối tiếp chiến công. Và vào ngày 10/3/1975 trận đánh then chốt giải phóng Buôn Ma Thuột mở đầu cho chiến dịch Tây Nguyên giành thắng lợi làm cho hệ thống phòng thủ của kẻ địch trên Tây Nguyên rung chuyển và tan rã mở đầu cho chiến thắng vĩ đại của cuộc tổng tiến công, nổi dậy mùa xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, mở ra một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc, chấm dứt ách thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa đế quốc trên đất nước ta, mở ra một kỷ nguyên mới của dân tộc. Kỷ nguyên hoà bình, độc lập, thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội.

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,895,210


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs