Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 27/04/2005
Trực tiếp chiến đấu trên chiến trường miền Nam


Bác Hồ với các Anh hùng Chiến sĩ thi đua quân giải phóng miền Nam.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trên chiến trường miền Nam đồng bào các dân tộc thiểu số không chỉ cống hiến to lớn của cải, tài sản mà còn hăng hái tham gia các lực lượng vũ trang. ở huyện Sơn Hà (Quảng Ngãi) phần đông là người Hrê, đã có 3.000- 4.000 thanh niên cầm súng trực tiếp chiến đấu và nhiều nghìn người đi thanh niên xung phong; riêng vùng Sông Rê (Vốn là huyện Sông Rê) trong thời kỳ 1970-1974, đã có tới gần 700 người tòng quân và khoảng 3.000 người tham gia thanh niên xung phong. Huyện Phước Sơn (Quảng Nam- Đà Nẵng), đa số là người Bnoong, tuy dân cư không đông nhưng chỉ một đợt từ đầu tháng 10 đến đầu tháng 11/1965, đã có gần 200 người vào du kích xã, hơn 300 người vào du kích thôn, hơn 100 người đi thanh niên xung phong. Trên địa bàn tỉnh Đắc Lắc, nhiều buôn có 10-50% dân số tham gia kháng chiến. Xuân 1968, không ít con em người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận lên chiến khu và đi chiến đấu xa nhà. Khu 5, năm 1966, có 7.000 thanh niên nhập ngũ và 3.000 người gia nhập thanh niên xung phong, trong đó nhiều chàng trai cô gái là con em các dân tộc thiểu số. Có những gia đình có 5-6 con đi kháng chiến. ở vùng người Chơ-ro, Xtiêng, Mnông, nhất là tại các vùng căn cứ, hầu như làng nào cũng có thanh niên vào bộ đội.
Ngay từ những năm 1957-1958, ở một số nơi đã ra đời các hình thức tổ chức bán vũ trang ở nông thôn miền núi. Đó là: các đội giao liên, trinh sát, các nhóm du kích thanh niên, các nhóm vũ trang mang tên “Đòi xương”, “Trả đầu”, “Bảo vệ dân tộc”, “Những người kháng chiến cũ” của người Co, Hrê, Ca-dong trên vùng cao miền tây Quảng Ngãi. Các tiểu đội tự vệ của thanh niên, của người già ở một số làng Bana huyện Vĩnh Thạnh tỉnh Bình Định; các đội du kích, tự vệ của các buôn làng người Thượng ở Kon Tum và Gia Lai… Sau đó, lực lượng vũ trang tập trung, du kích từng bước được xây dựng và ngày càng tăng cường lên. Vùng Phước Long tổ chức một trung đội toàn chiến sĩ Xtiêng, hầu hết cán bộ chiến sĩ đại đội 568 là con em người Xtiêng vùng Bù Gia Mập, có một khẩu đội nữ pháo binh người Xtiêng và Mnông. Đội du kích nữ Khmer ở Lương Hoà, Châu Thành (Cửu Long) là 1 đơn vị kiên trung nổi tiếng. ở Trà Bồng (Quảng Ngãi) đơn vị 339, đơn vị vũ trang đầu tiên của huyện được thành lập, gồm 33 chiến sĩ người Co và 10 chiến sĩ người Kinh. ở Vĩnh Thạnh (Bình Định), năm 1960, xây dựng 3 tiểu đội vũ trang tập trung, có nhiều người Bana. Miền tây Quảng Ngãi, đầu thập niên 60 đã tổ chức một đơn vị chủ lực toàn con em người Hrê. Đội vũ trang đầu tiên của huyện Giằng (Quảng Nam- Đà Nẵng) gồm 10 chiến sĩ, hầu hết là thanh niên Cơ-tu; sau dịp xuân 1968, huyện này cũng xây dựng một tiểu đội bộ đội nữ. ở Gia Lai và Kon Tum, cuối 1959, mỗi tỉnh bắt đầu thành lập 3 trung đội tập trung, chủ yếu là người các dân tộc Thượng, đến cuối 1960, lực lượng này tăng gấp đôi. ở Đắc Lắc, các đơn vị bộ đội địa phương là cơ sở để xây dựng nên Tiểu đoàn 301 có mặt những chiến sĩ thuộc một số dân tộc khác nhau. ở Lâm Đồng, khoảng đầu 1962, ra đời đơn vị đầu tiên của tỉnh, trong 97 chiến sĩ thì 67 là người Mạ, Cơ-ho, Chu-ru, rồi tiếp đến các đơn vị thành lập muộn hơn gồm phần lớn hoặc hầu hết chiến sĩ là con em các dân tộc Thượng ở địa phương: Tiểu đoàn 140, đơn vị nữ Pháo binh 8/3 và một số đại đội… Càng về sau, đồng bào các dân tộc thiểu số tham gia các lực lượng vũ trang của tỉnh, huyện, khu cũng như vào du kích ngày một đông. Cuối năm 1960, Nam Trung Bộ có tổng cộng 12.000 du kích, con số đó tăng lên 14.000 vào giữa 1963 và 105.000 vào cuối 1965; bộ đội cũng vậy, năm 1961, lực lượng địa phương mới có ở mỗi huyện từ 1 trung đội đến 1 đại đội, năm 1973-1974, nhiều nơi đã có được 2-3 đại đội ở huyện, 3-7 tiểu đoàn và thậm chí 1 trung đoàn tập trung ở tỉnh. Huyện Sông Rê (Quảng Ngãi) trong thời gian 1965-1968 có 200 người gia nhập bộ đội. Đắc Lắc, chỉ một năm 1966, đã có 600 thanh niên tòng quân, còn lực lượng du kích năm 1965 có trên 2.000 người ở xã và hơn 2.400 người ở buôn. Cũng vào thời điểm cuối 1965, ở cả 3 tỉnh Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum có gần 2,4 vạn du kích; trong lực lượng bộ đội địa phương có 7 đại đội là người Thượng. ở Kon Tum, du kích chiếm 15% dân số ở vùng căn cứ, riêng ở các huyện phía bắc tỷ lệ này đạt tới 16% và ở vùng mới giải phóng là 9%. ở miền núi Quảng Nam- Đà Nẵng có phong trào “toàn dân vi binh” dấy lên từ giữa thập niên 60; huyện Hiên, đến tháng 4/1966, có 679 du kích xã, 920 du kích thôn làng, 62 bộ đội huyện. Huyện Giằng đầu năm 1968 có trên 460 nữ du kích xã và thôn. Huyện Phước Sơn năm 1969 có 322 du kích xã, trong đó có 49 đội viên nữ, 216 du kích thôn, có 40 đội viên nữ… Tính từ 1969 đến cuối chiến tranh, người Chăm ở Nam Trung Bộ đã đưa hàng trăm thanh niên vào lực lượng vũ trang cách mạng. ở các dân tộc khác, trong các giai đoạn khác nhau, tình hình cũng diễn ra tương tự như vậy. Các dân tộc thiểu số ở miền Nam tuy dân số không nhiều, nhưng đã góp phần to lớn đánh đuổi giặc Mỹ- nguỵ. Sát cánh với người Kinh, đồng bào cống hiến sức lực, của cải, xương máu làm nên chiến thắng, để giải phóng non sông, đất nước. Mỗi mảnh đất, mỗi ngọn suối dòng sông, mỗi làng xã đều có những kỳ tích anh hùng. Hướng về miền Nam ruột thịt và với quyết tâm “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”, cũng như đồng bào Kinh, đồng bào các dân tộc thiểu số ở các tỉnh dân tộc và miền núi trên miền Bắc hưởng ứng mạnh mẽ lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước của Bác Hồ, với quyết tâm “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, “Tất cả cho tiền tuyến”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Thanh niên các dân tộc thiểu số hăng hái vào bộ đội. Hàng vạn thanh niên dân tộc Tày, Mường, Thái, Sán Dìu… đi bộ đội, có những nơi có đến 3-4% dân số tòng quân. Trong vùng dân tộc Mường tỷ lệ người nhập ngũ so với dân số chung là 3,4%. Đồng bào Việt Bắc đã đưa hơn 300.000 con em mình ra các chiến trường, riêng tỉnh Cao Bằng đã đóng góp vào đó hơn 30.000 người. Hàng nghìn thanh niên tỉnh Lào Cai, Yên Bái đi chiến đấu. Tỉnh Lai Châu (cũ) có hơn 7.000 người đi chiến đấu; các dân tộc Mảng, Khơ-mú ở tỉnh này đều ít người, nhưng cũng có mấy trăm thanh niên nhập ngũ. Các chiến sĩ người dân tộc thiểu số hoà trong dòng người “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, chiến đấu dũng cảm trên khắp chiến trường Trị- Thiên, Khu 5, Tây Nguyên, Nam Bộ, nhiều người đã hiến dâng cả xương máu vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Các dân tộc thiểu số tỉnh Lào Cai, Yên Bái đã đưa 4 tiểu đoàn vào Nam đánh giặc. Từ năm 1964-1965, bộ đội người Tày - Nùng đã sát cánh cùng các chiến sĩ người Thượng đánh giặc, lập được nhiều chiến công. Có những người được giao cương vị chỉ huy quan trọng ở mặt trận, tiêu biểu là 3 vị tướng người Tày: Tướng Đàm Quang Trung, trong đợt tiến công xuân 1968 chỉ huy đánh thành cổ Quảng Trị. Tướng Nam Long chỉ huy đánh thành phố Huế. Mở đầu chiến dịch tổng tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam, tướng Đàm Văn Nguỵ chỉ huy sư đoàn 316, gồm một số lớn là con em dân tộc Tày và Nùng, phối hợp cùng các đơn vị bạn đánh giải phóng Buôn Ma Thuột và tỉnh Đắc Lắc. Trận chiến thắng lịch sử này còn có sự tham gia của Trung đoàn 148 mà phần đông là các chiến sĩ người Thái. Trên chiến trường miền Nam, nhiều chiến sĩ, cán bộ người dân tộc thiểu số từ miền Bắc vào đã nêu những tấm gương sáng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, chiến đấu ngoan cường lập công xuất sắc, nhiều người được phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang”, danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”, “Dũng sĩ diệt xe cơ giới”…

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,902,930


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs