Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Chuyện về nữ thi sỹ ở Lai Châu

 27/03/2009

Chị Tấc trong một chuyến công tác tìm hiểu về bản sắc văn hóa của đồng bào các dân tộc ở Lai Châu.

Những vần thơ của “anh Tấc” cũng bật lên từ rừng, từ sự trải nghiệm, từ những gì mà bà con dành cho chị. Thành danh trong làng báo, trong thi ca... Nhưng chị vẫn bảo: Tao sống “bạc bẽo” với thơ, với báo. Sưu tầm và nghiên cứu văn hoá dân gian... là niềm yêu thích của chị. Những công trình sưu tầm, nghiên cứu mà chị đã, đang hoàn thiện và chưa công bố có thể làm vài luận án tiến sĩ chưa hết.

Kỳ II: Người ghi huyền sử bên dòng sông Đà

Suốt hành trình luồn rừng, lăn lộn vào những bản vùng sâu, vùng xa, khi nói về bà con, chị luôn trào dâng một niềm xúc động: “Không có “Những người mẹ núi” (tên một bài thơ của chị), chắc tôi không có ngày hôm nay”.

Thoát chết trong rừng già và những vần thơ bật lên từ cõi chết

Trong một chuyến lên Đồn biên phòng Sì Lở Lầu (huyện Phong Thổ), đến xã Ma Li Chải bỗng dưng chị bị sốt rét. Sau nhiều cơn vật vã thì người chị chỉ mỏng như tàu lá héo. Cả xã không ai có lấy một viên thuốc sốt rét. Rất may chị được một người mẹ người Hà Nhì cứu chữa. Mẹ tên là Phu Tà Ma, ở bản Tả Chải.

Ngày ấy, tôi chỉ biết rằng ngày ba lần mẹ thái mỗi lần ba lát củ thảo quả rồi kẹp vào giữa một miếng đá phong hóa màu vàng to bằng hai đốt ngón tay bắt tôi nhai kỹ và nuốt. Ngày ấy, dân Vàng Ma Chải đói lắm. Bên máng nước lúc nào cũng có cả đống miếng củ nâu băm bằng nửa bàn tay. Làm như vậy để bớt đi nhựa chát trong củ nâu. Đó là lương thực chủ yếu của đồng bào. Gia đình mẹ đã nhường những bát cơm hiếm hoi cho tôi. Bây giờ mẹ đã đi rất xa rồi! Tôi cứ ân hận ngày đó không có máy để chụp cho mẹ một tấm ảnh. Nhưng hình dáng mẹ, khuôn mặt nhân hậu của mẹ luôn trong tôi, luôn dắt tôi đi...

Một lần khác trên đường từ Pắc Ma lên Đồn biên phòng Ka Lăng, dọc đường đi gặp mưa, đường trơn trượt, chị ướt hết. Đi đến cuối chiều, chị gặp một người phụ nữ Hà Nhì đi rừng về. Phía sau lưng một gùi củi nặng trĩu, phía trước ngực còn địu đứa con nhỏ. Vậy mà khi nhìn thấy chị đang lê từng bước lên dốc, người phụ nữ ấy dừng lại đưa tay nhấc dây túi máy ảnh trên cổ chị khoác sang vai mình. Chuyện đó đã để lại ấn tượng sâu đậm trong chị. Không đành chất nặng thêm lên vai người mẹ trẻ, nhưng không “đòi” lại được cái máy ảnh, chị lẳng lặng gắng bước bên cạnh hai mẹ con. Lúc này chị chưa biết tiếng Hà Nhì. Hai người chỉ nói với nhau qua cử chỉ của bàn tay và ánh mắt. Nhưng chị nói rằng như có một luồng sinh khí từ người mẹ trẻ này truyền sang chị. Bài thơ “Những người mẹ núi” bật lên từ đây: Cõng hạt giống trên lưng/Địu con thơ trước ngực/Qua ba cánh rừng/ Mẹ lên nương, mặt trời còn chưa thức…. Xin trời thương cho cây nhiều hạt sống/Nuôi lũ trẻ lớn lên thành trai bản, gái Mường/Mùa gặt cõng hạt sống trên lưng/ Địu con thơ trước ngực/Đầu mẹ đội nắng mưa sấm chớp/Qua ba cánh rừng/Về bản cùng trăng/Những người mẹ núi/Xin gì cho riêng mình. Bài thơ này chị viết để tri ân những người mẹ núi đã chở che, bao bọc, mong chờ và khóc đợi chị về.

Trả ơn đời

Đồng nghiệp cứ gọi chị là “anh Tấc”, nhưng tâm hồn chị sâu thẳm, nhạy cảm, cũng biết yêu, nhớ, đợi chờ như bao nhiêu người phụ nữ khác. Mối tình đầu mà chị gọi là tình yêu trẻ con ấy, nhắc lại chị vẫn còn trĩu nặng nỗi buồn. Nỗi buồn mang ký ức một cuộc chiến tranh.

Em tóc đuôi gà khét nắng/ Nghịch ngợm như con trai/ Anh quần đùi màu đen trũi/ hiền lành như con gái…Lớn lên rồi anh đi ra trận/ Không về/ Em ra suối nhặt hòn sỏi dẹt thia lia/ Lần nào cũng chỉ được hai vòng.

Không lâu sau thì anh mất. Từ đó, chị chôn chặt mối tình sâu nặng trong lòng.

Trong suốt những chuyến đi rừng, chị đã thu thập được một khối tư liệu về phong tục, tập quán... của các dân tộc Thái, Lự và Hà Nhì. Chị bảo đó là cuộc đời chị. Nó là tài sản vô giá có thể viết được mấy chục cuốn sách. Cuốn sách đầu tiên mà chị sắp xuất bản là cuốn “Dân ca nghi lễ dân tộc Thái” (song ngữ Thái - Việt). Năm 2007, nhờ một phần kinh phí hỗ trợ của Quỹ Đan Mạch, chị đã tổ chức phục dựng được lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu (lễ hội cốm) của người Thái ở Mường So. Lễ hội này được tổ chức lần cuối cùng vào rằm tháng 9 (âm lịch) năm 1946. Như vậy sau 60 năm, nó mới được phục dựng. Hiện nay, tỉnh Lai Châu đã đầu tư kinh phí để duy trì tổ chức lễ hội này hằng năm.

Một lần đến bản Phay Cát, xã Khổng Lào, huyện Phong Thổ để sưu tầm tư liệu cho công trình nghiên cứu về truyền thuyết Nàng Han. Năm đó, lũ ống xóa sổ toàn bộ cánh đồng của mường. Dân bản đói phải đi lên rừng tìm sắn ăn độn. Lúc đó, Thùng Thị Quỳnh (sau này là con nuôi của chị) đang học lớp 3 và có ý định bỏ học để giúp việc bố mẹ. Bố Quỳnh bị bệnh nặng, mẹ thì đau yếu thường xuyên. Chị đã nhận Quỳnh làm con nuôi. “Tao nuôi đàng hoàng chứ không phải nhận rồi để đấy. Nuôi cho ăn học thành người, có nghề có nghiệp rồi dựng vợ, gả chồng hẳn hoi” - chị bảo. Bây giờ Quỳnh đã lập gia đình có một cậu con trai. Chồng cô là bộ đội. Cứ tết, hè lại mang con về với bà Tấc.

Cậu con thứ hai-Cá Văn Thành, dân tộc dân tộc Giáy, ở bản Hà Giang, xã Bản Giang (Tam Đường). Hiện nay, Thành đang công tác ở Tiểu đoàn huấn luyện của Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh.

Căn nhà nhỏ của chị nằm sâu trong con ngõ hẹp của thị xã Lai Châu. Giờ chị đang phụng dưỡng người mẹ già đã ngoài tám mươi tuổi. “ Căn nhà này sẵn sàng đón tất cả những ai cần một chỗ nghỉ”-chị bảo vậy. Còn người cha đã ruồng bỏ mẹ con chị cách đây ngót nửa thế kỷ nhưng những năm cuối đời, ông vẫn được cô con gái thỉnh thoảng về chăm sóc.

Hiện nay, chị Tấc đang tập trung tự học ngoại ngữ để chuẩn bị sang năm về Hà Nội học thạc sĩ chuyên ngành Văn hoá dân gian. “Tao học không phải để khoe với thiên hạ. Học để biết phương pháp, để có điều kiện góp tiếng nói cho mọi người biết văn hóa, văn nghệ dân gian của các tộc người ở Lai Châu “kỳ vỹ” như thế nào. Càng khám phá, càng phát hiện thì càng bị cuốn hút vào đó. Tất nhiên là phải có tình yêu với nói và phải bằng tình yêu”-chị nói.


Mạnh Hà

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức cuộc thi viết truyện ngắn, bút ký, phóng sự về ngành Giáo dục (03/2009)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 60,134,328


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs