Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 24/02/2009
Vùng Tây Nam Bộ trước yêu cầu đổi mới về phương thức giải quyết vấn đề dân tộc
Tây Nam Bộ còn gọi là Đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm 13 tỉnh, thành phố là Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Đồng Tháp, Trà Vinh, An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang và Cà Mau.

 Tây Nam Bộ có diện tích trên đất liền là 39.712 km2 (chiếm 12% diện tích cả nước), có hải phận rộng trên 360.000 km2, dân số 16.698.900 người (năm 2002), mật độ dân số trên 400 người/km2. Trong đó có khoảng 1,3 triệu người dân tộc Khmer sống tập trung ở các tỉnh TràVinh, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang.

Tây Nam Bộ có vùng biển rộng tiếp giáp với các nước trong khối ASEAN, với hơn 100 hòn đảo lớn nhỏ (trong đó 40 đảo có dân sinh sống); có 17 huyện chạy ven biển Đông bao bọc cả vùng Tây Nam Bộ với 700 km bờ biển; có 339,6 km biên biới trên bộ tiếp giáp với Campuchia (phía Tây Nam) gồm 7 huyện là Đức Huệ, Mộc Hoá, Vĩnh Hưng, Tân Hồng, Hồng Ngự, An Phú, Tân Châu; có ba cửa khẩu quốc tế và bốn cửa khẩu quốc gia. Tây Nam Bộ còn có hải phận giáp với Thái Lan, Campuchia thuộc hai tỉnh Kiên Giang và Cà Mau.

Do vị trí địa lý đặc biệt quan trọng, nên đây là vùng đất mà trong quá khứ kẻ thù đã nhiều lần xâm nhập để thực hiện mưu đồ chống phá nước ta. Ngày nay sự ổn định chính trị, an ninh - quốc phòng của vùng Tây Nam Bộ có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

Đặc điểm tự nhiên nổi bật và ít có trên cả nước của Tây Nam Bộ là vùng có gần một nửa diện tích bị ngập lũ từ 3 đến 4 tháng mỗi năm, vừa có mặt hạn chế đối với canh tác nông nghiệp, gây nhiều khó khăn cho cuộc sống của dân cư nhưng đồng thời cũng tạo nhiều thuận lợi đối với việc khai thác nguồn lợi từ thuỷ sản, tăng độ phì nhiêu cho đất trồng trọt và làm sạch môi trường.

Những năm qua, cùng với việc thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khoá IX về công tác Dân tộc, vùng Tây Nam Bộ đã tiếp tục đạt được những thành tựu quan trọng. Đời sống nhân dân vùng Tây Nam Bộ sau hơn 20 năm đổi mới đã được nâng lên một bước đáng kể.

Mặc dù đã được đầu tư phát triển song hiện nay Tây Nam Bộ vẫn còn nhiều bất cập trước yêu cầu mới về phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường, phòng tránh thiên tai, nhất là khu vực nông thôn vùng lũ. Hiện nay còn khoảng 20% hộ dân chưa có điện sinh hoạt, 20% số xã chưa có đường ô tô đến được trung tâm xã. Số hộ dùng nước sạch mới đạt khoảng 60%.

áp lực nhân khẩu quá lớn và tiến bộ xã hội chưa tương đồng với phát triển kinh tế. Dân số đang tăng ở mức 1,34%/năm.

Với một vùng lãnh thổ mà các hoạt động kinh tế ở đó cơ bản dựa trên khai thác tài nguyên đất và nước một cách khá thuận lợi như Tây Nam Bộ thì áp lực dân số và lao động lớn như vậy vừa là nguyên nhân sâu xa gây ra những thách thức không nhỏ đối với phát triển triển kinh tế - xã hội, môi trường vừa là vấn đề nhạy cảm đối với sự ổn định chính trị - xã hội và phát triển bền vững.

Tỷ lệ hộ nghèo của toàn vùng trong nhiều năm trước đây trên dưới 20%. Giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho một quy mô dân số lớn để xoá đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống là những vấn đề quan tâm hàng đầu của Đảng bộ và chính quyền địa phương các tỉnh vùng Tây Nam Bộ. Sự chênh lệch về mức sống giữa các tầng lớp xã hội có xu hướng ngày càng gia tăng cũng là nguyên nhân sâu xa của những khác biệt, mâu thuẫn và khả năng bất ổn chính trị ở Tây Nam Bộ.

Người Khmer đến định cư sớm nhất ở vùng châu thổ sông Cửu Long. Họ vốn là những người nông dân Khmer nghèo khổ đến đây làm ăn sinh sống để tránh sự áp bức, bóc lột của chế độ Ăng Co. Nhưng về sau, do nội chiến và sự giết chóc của quân Xiêm, những người di cư Khmer đến vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long ngày càng đông hơn.

Từ lâu, chùa Khmer là điểm sinh hoạt văn hoá – xã hội của đồng bào. Trong mỗi chùa có nhiều sư (gọi là các ông lục), do sư cả đứng đầu. Thanh niên Khmer trước khi trưởng thành thường đến chùa tu học để trau dồi đức hạnh và kiến thức. Người Khmer có tiếng nói và chữ viết riêng, tạo nên bản sắc dân tộc của mình trên một nền tảng văn hoá chung, một lịch sử chung của tất cả các dân tộc cùng nhau bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam thống nhất. Đồng bào Khmer sống xen kẽ với đồng bào Kinh, Hoa trong các phum, sóc, ấp.

Đồng bào Khmer Nam Bộ có nhiều phong tục, tập quán và có nền văn hoá nghệ thuật rất độc đáo. Những chùa lớn thường có đội trống, kèn, đàn, đội ghe Ngo… Hàng năm người Khmer có nhiều ngày hội, ngày tết dân tộc, ngày lễ lớn như: Chôn chơ nam thơ mây (Lễ năm mới), lễ Phật đản, lễ Đôn ta (xá tội vong nhân), Oóc bom boóc (lễ cúng trăng).

Người Khmer biết thâm canh lúa nước từ lâu đời. Họ thường cư trú ở những vùng có điều kiện địa lý - tự nhiên khó khăn, hoạt động kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, trong đó nghề trồng lúa chiếm đa số dân cư lao động (87%). Trong những năm gần đây, công cuộc đổi mới và nền kinh tế thị trường đã có những tác động tích cực đến đời sống của đồng bào Khmer, số hộ đủ ăn đến dư dả tăng lên rõ rệt (74,83%). Bên cạnh đó, vẫn còn một bộ phận dân cư cuộc sống còn khó khăn (gần 25%).

Phật giáo Nam tông chi phối cộng đồng người Khmer ở Nam Bộ khá sâu sắc và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục, đạo đức lối sống và chính trị. Đây là một đặc điểm riêng khá đặc biệt đối với dân tộc Khmer đó là dân tộc và tôn giáo có nhiều nét tương đồng.

Do nhiều nguyên nhân lịch sử để lại mà trong đồng bào Khmer Nam Bộ (kể cả trong một số không nhỏ cán bộ ở cơ sở) vẫn chưa có nhận thức rõ ràng, đúng đắn về quốc gia dân tộc. Đây là rào cản vô hình nhưng có sức mạnh tác động, chi phối không nhỏ đến vấn đề đoàn kết dân tộc trong cộng đồng người Khmer ở Nam Bộ. Từ đó cảm nhận về sự mất mát do những thay đổi quan hệ tộc người trong lịch sử vẫn còn ảnh hưởng trong một bộ phận đồng bào Khmer. Chủ nghĩa thực dân trước đây và các thế lực thù địch hiện nay luôn lợi dụng vấn đề lịch sử, vấn đề lãnh thổ để kích động hận thù, chia rẽ dân tộc. Thêm vào đó, tình hình phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc Khmer Nam Bộ vẫn còn nhiều tồn tại yếu kém, có lúc việc thực hiện chính sách dân tộc ở địa phương còn để xảy ra sai phạm… tất cả những điều đó tạo ra sự mặc cảm, thiếu lòng tin của một bộ phận đồng bào Khmer đối với chính sách dân tộc của Đảng, hơn nữa, còn là một nguy cơ tiềm ẩn đe doạ đến sự ổn định chính trị - xã hội ở Tây Nam Bộ.

Người Chăm ở Tây Nam Bộ là một bộ phận của cộng đồng người Chăm từ miền Trung Bộ đến sinh sống tại đây. Vào thế kỷ XIV – XV, một bộ phận người Chăm ở Ninh Thuận di cư đi nhiều nơi, sau đó về tụ cư thành từng làng (Palay) dọc theo sông Hậu, trên các cù lao thuộc các huyện Phú Châu, Phú Tân, Châu Phú, tỉnh An Giang vào nửa đầu thế kỷ XIX.

Về tôn giáo, nhóm cộng đồng Chăm cùng theo đạo Hồi (Islam), một tôn giáo du nhập từ bên ngoài vào Nam Bộ, với 65.000 tín đồ. Đa số người Chăm sống ở An Giang, nhóm sống ở Tân Châu (An Giang) và nhóm sống ở Tây Ninh (3.000 người) đều cư trú giáp biên giới.

Về mặt tổ chức, năm 1961 đến 1975 người Chăm Islam đã lập ra Hiệp hội Chăm Hồi giáo Việt Nam, và từ năm 1992 đã thành lập ra Ban đại diện Cộng đồng Hồi giáo ở thành Phố Hồ Chí Minh để duy trì và nâng cao những hiểu biết về giáo lý, tập tục của đạo Islam nhằm giúp người Chăm thực hành tín ngưỡng.

Trung tâm văn hoá của cộng đồng người Chăm là các thánh đường, nơi sinh hoạt tín ngưỡng Islam của cộng đồng. ở Nam Bộ, số người Chăm tuy không đông, nhưng sự hiện diện của những masjid (tiểu thánh đường) với lối kiến trúc đặc trưng, bề thế, uy nghi đã thể hiện tiềm lực tinh thần tín ngưỡng của cộng đồng người Chăm. Hiện nay ở Nam Bộ có 130 masjid và surau (tiểu thánh đường) theo lối kiến trúc của các quốc gia Hồi giáo. Chính lối kiến trúc này đã làm nổi bật các khu vực của người Chăm và cộng đồng theo đạo Islam sinh sống ở Nam Bộ.

Người Hoa ở Đồng bằng sông Cửu Long có gần 200.000 người, chiếm khoảng 1,24% dân số toàn vùng Tây Nam Bộ và chiếm khoảng 23,2% dân số Hoa toàn quốc. Họ sống tập trung nhiều nhất ở các tỉnh Bạc Liêu, Tiền Giang, An Giang, Vĩnh Long, Cà Mau…

Trong khu vực Tây Nam Bộ, ngược lại với dân tộc Khmer sống tương đối cách biệt với dân tộc khác, người Hoa sống rất hoà đồng với các dân tộc khác nhằm mục đích làm ăn, mua bán. Người Hoa rất có ý thức và năng lực kinh doanh, thương mại, chịu khó, chí thú, có bí quyết làm ăn, ít quan tâm đến chính trị. Họ ít tham gia các hoạt động của cộng đồng chung, song tính cộng đồng trong nội bộ người Hoa lại rất cao. Các hội tương trợ của các dòng họ người Hoa liên kết lại thành các tổ chức chặt chẽ, có quy mô lớn và hoạt động rất hiệu quả.

Về tôn giáo, ngoài tín ngưỡng thờ các vị thần khác nhau, người Hoa còn theo đạo Phật. Bên cạnh những nét đặc sắc trong phong tục tập quán, thể hiện qua thờ tự, qua nghi thức hành lễ, tín đồ người Hoa cũng lập Hội Phật học lấy tên là Minh nguyệt cư sĩ Lâm Phật học hội. Tổ chức này có mặt tại nhiều tỉnh đồng bằng sông Cửu Long như tại Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Tháp… Đây là hình thức tương trợ trong cộng đồng người Hoa, giúp cầu cúng, viếng thăm những gia đình Hoa có tang lễ hay gặp khó khăn trong cuộc sống.

Các hoạt động tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa tại nhiều tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long đã góp phần thúc đẩy giao lưu văn hoá mạnh mẽ với các nước Châu á trong khu vực qua việc đưa về Việt Nam nhiều tượng Phật từ các nước, các văn hoá phẩm, pháp khí, kinh tạng từ Trung Quốc, Myanma…

Như vậy, sự đa dạng về văn hoá, tôn giáo, tộc người ở vùng đất Tây Nam Bộ đã làm nên sự phong phú và những nét đặc thù cho nền văn hoá Việt Nam nói chung và văn hoá Tây Nam Bộ nói riêng. Tuy nhiên, cũng chính sự phong phú, đa dạng và đặc thù ấy đã đặt ra không ít vấn đề phức tạp về chính trị-xã hội nói chung và đặc biệt là những vấn đề tôn giáo và dân tộc ở vùng Tây Nam Bộ.

ở vùng Tây Nam Bộ, xung đột xã hội mang tính chất tôn giáo - dân tộc chưa bộc phát thành những điểm nóng chính trị - xã hội như ở Tây Nguyên, nhưng đang tiềm ẩn nguy cơ bất ổn định về chính trị - xã hội.

Do vậy, đổi mới phương thức giải quyết vấn đề dân tộc ở vùng Tây Nam Bộ hiện nay là một trong những nhiệm vụ vừa cơ bản, bức xúc vừa mang tính chiến lược thường xuyên và lâu dài trong việc ổn định về chính trị - xã hội ở vùng Tây Nam Bộ.

Đối với dân tộc Khmer, trước hết cần khắc phục xu hướng kỳ thị tộc người, củng cố và tăng cường vững chắc ý thức về Tổ quốc Việt Nam, ý thức công dân nước Việt Nam của đồng bào và sư sãi Khmer ở Nam Bộ. Đảng, Nhà nước và các cấp uỷ, chính quyền địa phương cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến rộng rãi những quan điểm về lịch sử vùng đất Nam Bộ dưới góc độ khoa học, quan điểm lịch sử và tư tưởng tiến bộ nhằm đánh giá đúng quan hệ lịch sử giữa hai dân tộc Khmer và Việt Nam trước đây. Phải thực sự quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào và sư sãi Khmer. Tất cả những vấn đề đó được coi là nhóm nhiệm vụ vừa cơ bản lâu dài, vừa cấp bách trong chính sách đối với người Khmer ở vùng đất Nam Bộ của Đảng và Nhà nước ta.

Khắc phục xu hướng kỳ thị tộc người một cách cơ bản nhất, hiệu quả nhất vẫn là sự gần gũi, tôn trọng và giúp đỡ tận tình những tộc người thiểu số, yếu thế để họ có điều kiện phát triển về kinh tế, văn hoá ngang bằng với các dân tộc khác trong một quốc gia đa dân tộc, xoá dần những mặc cảm lệch lạc đã có sẵn từ lâu. Đó là đạo đức cách mạng, là cái căn cốt, nền tảng của tinh thần nhân văn trong xử lý các quan hệ chính trị và đồng thời còn là một trong những nhân tố cấu thành văn hoá chính trị của cán bộ và nhân dân ta.

Khắc phục tư tưởng kỳ thị tộc người còn có khả năng giải toả được những mầm mống xung đột xã hội ngay từ khi những mầm mống này đang còn tiềm ẩn sâu xa trong ý thức của các cộng đồng tộc người ở vùng Tây Nam Bộ, đặc biệt là đối với cộng đồng người Khmer.

Thứ hai, tiếp tục đẩy mạnh công tác xoá đói giảm nghèo, nhất là đối với đồng bào Khmer ở vùng Tây Nam Bộ. Cần tập trung nghiên cứu những giải pháp, điều kiện để giúp đồng bào Khmer thoát nghèo một cách thiết thực. Chẳng hạn, cần sớm đưa ra chính sách chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chính sách hỗ trợ đất sản xuất, chính sách về vay vốn, chính sách giải quyết việc làm, chính sách đào tạo nghề… một cách hợp lý và căn bản.

Trong quy hoạch phát triển sản xuất, cần nghiên cứu và tính toán về khả năng, điều kiện thực tế của đồng bào nhằm giúp đồng bào giữ được tư liệu sản xuất và từng bước vươn lên phát triển.

Đối với việc quy hoạch mở rộng đô thị, xây dựng các khu công nghiệp phải đảm bảo duy trì và phát triển toàn diện các mặt đời sống của đồng bào, hạn chế tối đa tình trạng đồng bào di dời đi nơi khác.

Tăng cường phát triển kinh tế, nỗ lực xoá đói giảm nghèo trong vùng đồng bào Khmer cũng là để thực hiện quyền bình đẳng đối với các dân tộc, góp phần quan trọng trong việc giải toả những nguyên nhân sâu xa có thể dẫn đến những xung đột mang tính chất sắc tộc.

Thứ ba là phát triển văn hoá giáo dục trong vùng dân tộc Khmer. Đây là một trong những giải pháp quan trọng trong đổi mới phương thức giải quyết vấn đề dân tộc hiện nay nhằm ngăn chặn từ xa khả năng xảy ra bất ổn định chính trị, xung đột sắc tộc ở vùng Tây Nam Bộ.

Người Khmer có nền văn hoá phát triển lâu đời, có ngôn ngữ, chữ viết khá hoàn chỉnh. Do đó, định hướng các hoạt động văn hoá, nâng cao dân trí, bồi dưỡng tinh thần, ý thức quốc gia trong dân tộc Khmer chiếm một vị trí vô cùng quan trọng.

Trong chính sách văn hoá, Nhà nước cần phải bảo tồn và phát huy những tinh hoa văn hoá của từng tộc người, đưa những giá trị tinh thần, bản sắc văn hoá vào cuộc sống của chính cộng đồng dân tộc đó để nó tồn tại, vận động và phát triển cùng với tộc người đó trong bối cảnh chung của đất nước và thời đại. Có như vậy thì văn hoá dân tộc mới có sức sống lâu dài, mới trở thành động lực của sự phát triển và mới có điều kiện đào thải những yếu tố không còn phù hợp.

Về phát triển văn hoá ở cơ sở, một mặt, cần phát huy vai trò của các ngôi chùa trong vùng đồng bào dân tộc. Bởi lẽ, chùa của người Khmer không chỉ đơn thuần là chốn tu hành mà từ lâu, nó đã được coi như trung tâm sinh hoạt văn hoá - xã hội của cả cộng đồng. Do đó, sử dụng ngôi chùa như là nơi truyền tải nội dung văn hoá - giáo dục, tuyên truyền pháp luật của Nhà nước là điều phù hợp với xã hội Khmer, đáp ứng được phần nào nhu cầu văn hoá và tư tưởng của quần chúng nhân dân. Mặt khác, đời sống xã hội hiện nay đang có nhiều thay đổi, văn hoá cũng biến đổi và phát triển không ngừng, chùa - sản phẩm sinh ra trong xã hội truyền thống - không thể chuyển tải hết mọi nội dung văn hoá - xã hội và đời sống hiện đại, cho nên cần phải phát huy vai trò của các thiết chế văn hoá khác trong việc gìn giữ, bảo tồn và phát huy, phát triển các giá trị văn hoá truyền thống của cộng đồng các dân tộc đồng thời vẫn bảo đảm được tính đúng đắn của những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với vùng Tây Nam Bộ.

Việc bảo tồn, phát huy tinh hoa văn hoá tộc người cần được coi là giải pháp hàng đầu trong việc ứng xử với cộng đồng dân tộc Khmer. Do đó, vấn đề xây dựng các trường văn hoá nghệ thuật khu vực để đào tạo con người hoạt động cho lĩnh vực văn hoá nghệ thuật Khmer là hết sức cần thiết.

Trong định hướng phát triển cũng cần nghiên cứu phát triển các đơn vị hoạt động văn hoá thông tin, nghệ thuật cấp khu vực như: báo, đài phát thanh, phát hình, trung tâm sản xuất băng đĩa… bằng tiếng Khmer để tập trung được nguồn nhân lực của các địa phương, từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động nhằm đáp ứng xu thế phát triển. Việc nghiên cứu xây dựng quy ước văn hoá để bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong khu vực cũng cần được nghiên cứu chỉ đạo chặt chẽ, thống nhất.

Phát triển văn hoá, giáo dục trong đồng bào Khmer là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Nó không chỉ góp phần “xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” mà còn củng cố và phát triển khối đại đoàn kết dân tộc, góp phần ổn định chính trị - xã hội trong điều kiện các thế lực thù địch đang thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc hiện nay.

Cùng với người Kinh và người Khmer, cộng đồng người Hoa và người Chăm ở Tây Nam Bộ cũng cần được giải quyết các vấn đề tôn giáo - dân tộc vừa mang tính thống nhất vừa có những yếu tố đặc thù, thích hợp, thể hiện tinh thần đại đoàn kết dân tộc trong chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta.

TS. Nguyễn Hoài Văn

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,899,643


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs