Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 27/02/2009
Nâng cao thu nhập kinh tế hộ nông dân nông nghiệp dân tộc thiểu số và miền núi


Đồng chí Trương Tấn Sang, Uỷ viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư và các đồng chí lãnh đạo tỉnh Bắc Giang thăm hộ nông dân sản xuất giỏi tại xã Quý Sơn - Lục Ngạn (Bắc Giag) ảnh: CTV

Hộ gia đình nông dân nông nghiệp là đơn vị kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ được tổ chức theo hình thức gia đình, có một hoặc một số người lao động, tự đầu tư vốn trang bị tư liệu sản xuất và dựa vào lao động của gia đình là chính để sản xuất theo khả năng, yêu cầu của gia đình và của xã hội.

Sự tồn tại và phát triển hộ kinh tế gia đình nông dân nông nghiệp là không thể thiếu được do nó đáp ứng được yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất, khai thác có hiệu quả các tiềm năng về vốn, sức lao động và tay nghề trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn. Chúng ta có trên 10 triệu hộ nông dân và trên 70% dân số là nông dân nông nghiệp, song chúng ta chưa thấy hết được vai trò của kinh tế hộ gia đình nông dân nông nghiệp nói chung, nông dân dân tộc thiểu số và miền núi nói riêng trong công cuộc xoá đói giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
 
 Theo số liệu của Tổng cục Thống kê tỷ lệ các hộ nghèo ở vùng dân tộc và miền núi còn quá cao so với trung bình chung cả nước.
 
 Số liệu thống kê năm 2006, cho thấy trong khi tỷ lệ hộ nghèo chung cả nước là 19,5% thì vùng Đông Bắc cao hơn 9,9%, Vùng Tây Bắc cao hơn 39,1%; Vùng Bắc Trung Bộ cao hơn 12,4%; Vùng Tây Nguyên cao hơn 13,6%.
 
 Nguyên nhân của đói nghèo là do chúng ta chưa thấy hết vai trò, tầm quan trọng của kinh tế hộ gia đình và mối liên hệ với mục tiêu chương trình xoá đói giảm nghèo và nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc và miền núi. Bên cạnh đó còn có các nguyên nhân như: Trình độ dân trí thấp, lao động nông nghiệp nông thôn phần lớn chưa qua đào tạo; Việc tổ chức sản xuất và quản lý kinh tế của hộ gia đình nông dân nông nghiệp dân tộc thiểu số miền núi còn nhiều bất cập, thiếu tính khoa học; Kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội như giao thông, thuỷ lợi và các công trình văn hoá, xã hội còn nhiều yếu kém, lạc hậu; Cuối cùng là sự kết hợp 4 nhà: “Nhà nước, Nhà khoa học, Nhà doanh nghiệp, Nhà nông” còn chưa chặt chẽ, thiếu tính lâu dài, bền vững, thiếu những cơ chế chính sách kích hoạt cho sự phát triển.
 
 Để từng bước nâng cao thu nhập kinh tế hộ gia đình người nông dân dân tộc thiểu số và miền núi, thời gian tới cần thực hiện một số giải pháp như sau:
 
 1. Nâng cao nhận thức vị trí, vai trò kinh tế hộ gia đình nông dân dân tộc thiểu số và miền núi đối với mục tiêu xoá đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế-xã hội. ở bất cứ địa bàn dân cư nào có nhiều hộ gia đình khá và giàu thì kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội đều khá tốt; đường giao thông nông thôn đi lại thuận lợi; cơ sở khám chữa bệnh, trường học và các công trình phúc lợi khang trang, sạch đẹp; người dân có điều kiện đầu tư cho con cái học hành; công tác y tế chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người dân được coi trọng; các sinh hoạt văn hoá cộng đồng (lễ hội, hoạt động văn hoá, văn nghệ…) được duy trì hoạt động. Bộ mặt nông thôn miền núi thay đổi theo hướng văn minh tiến bộ.
 
 Để kinh tế hộ gia đình nông dân dân tộc thiểu số phát triển cả về lượng và chất, trước hết chúng ta phải thấy hết được vị trí, vai trò và những tác động tích cực của kinh tế hộ gia đình dân tộc thiểu số đối với nhiệm vụ xoá đói giảm nghèo và phát triển kinh tế-xã hội của miền núi. Để thực hiện được mục tiêu này, cần có sự quan tâm, giúp đỡ tạo điều kiện của các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở. Đây là vấn đề nhất quán trong nhận thức và hành động.
 
 2. Sự phối hợp, tham gia tích cực có hiệu quả của bốn nhà: Nhà nước, Nhà khoa học, Nhà doanh nghiệp, Nhà nông.
 
 Kinh tế hộ gia đình nông dân dân tộc thiểu số không thể phát triển có hiệu quả nếu không có sự đầu tư của Nhà nước, sự giúp đỡ của các Nhà khoa học và sự phối hợp liên kết (hoạt động sản xuất - kinh doanh) của các Nhà doanh nghiệp.
 
 Nhà nước đầu tư hỗ trợ kinh tế hộ gia đình nông dân dân tộc thiểu số một số lĩnh vực:
 
 Một là, phát triển giáo dục nâng cao dân trí, đào tạo nâng cao trình độ canh tác cho nông dân. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đề ra mục tiêu: “…Nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị , đóng vai trò làm chủ nông thôn mới…” và mục tiêu đến năm 2020 “…Lao động nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 50%, số xã đạt chuẩn nông thôn mới khoảng 50% v.v. Nông dân vùng dân tộc thiểu số miền núi còn canh tác lạc hậu đã và đang là trở ngại lớn cho việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, dẫn đến hiệu quả sản xuất không cao, thu nhập người lao động thấp, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số chưa được cải thiện và gặp nhiều khó khăn. Do vậy, đào tạo nguồn nhân lực cho nông dân người dân tộc thiểu số đang là vấn đề cấp thiết rất cần sự quan tâm ưu tiên đầu tư của Nhà nước.
 
 Hai là, đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội nông thôn: Điện, đường, trường, trạm; bên cạnh đó cần phải ưu tiên đầu tư các công trình thuỷ lợi với quy mô vừa và nhỏ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp; đây là những công trình phục vụ trực tiếp phát triển kinh tế-xã hội, đời sống sinh hoạt nhân dân các dân tộc của các địa phương.
 
 Ba là, cung cấp giống cây, con cho năng suất cao, chất lượng tốt. Thực tế cho thấy còn nhiều vật nuôi, cây trồng năng suất, chất lượng thấp bà con đồng bào dân tộc thiểu số vẫn đưa vào sản xuất, dẫn đến hiệu quả sản xuất của đồng bào chưa cao. Do vậy Nhà nước quan tâm đầu tư chuyển đổi vật nuôi, cây trồng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho hộ gia đình.
 
 Bốn là, dự báo thị trường: cung cấp đầy đủ thông tin về nhu cầu thị trường nông sản trên thế giới và trong nước giúp định hướng cho đồng bào đầu tư sản xuất hàng hoá đáp ứng nhu cầu của thị trường; tránh hiện tượng sản xuất vượt quá khả năng tiêu thụ của thị trường như: sản xuất mận Tam hoa ở Bắc Hà; sản xuất cà phê ở khu vực Tây Nguyên…
 
 Năm là, bổ sung hoàn thiện chính sách quản lý đất đai theo hướng thuận lợi cho chuyển nhượng và tích tụ đất đai. Nhà nước có thể giao thẳng cho từng hộ gia đình nông dân với tư cách là những người chủ cụ thể trực tiếp quản lý và sử dụng trên cơ sở những ràng buộc chặt chẽ về nghĩa vụ nộp thuế, về bảo vệ tài nguyên môi trường. Đồng thời, công nhận về mặt pháp luật quyền sử dụng lâu dài, quyền thừa kế, cũng như đi đôi với quá trình phát triển của phân công lao động, mở mang ngành nghề theo hướng chuyên môn hoá “ai giỏi nghề gì làm nghề ấy” có thể tự do chuyển nhượng quyền sử dụng ruộng đất cả bao gồm đất rừng cho những người khác. Điều đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy quá trình tập trung hoá sản xuất diễn ra nhanh chóng với việc xuất hiện những nông hộ sản xuất hàng hoá với khối lượng lớn bằng các công nghệ tiến tiến trong nông nghiệp và nông thôn vùng dân tộc và miền núi nước ta.
 
 Nhà khoa học giúp hộ kinh tế gia đình nông dân dân tộc thiểu số như: Tư vấn giúp cho hộ nông dân trồng, nuôi cây con phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu. Triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chế biến nông, lâm sản. Dự báo thiên tai, dịch bệnh; cách phòng, chữa các dịch bệnh cho vật nuôi, cây trồng giúp cho các hộ gia đình cách phòng chống thiên tai, dịch bệnh một cách có hiệu quả. Giúp cho nông dân biết cách hạch toán, quản lý chi tiêu quy mô hộ gia đình.
 
 Do trình độ của đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế do vậy để sản phẩm của các nhà khoa học đến với người dân một cách có hiệu quả, thì việc tiếp nhận, ứng dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật vào bất cứ lĩnh vực nào của sản xuất và đời sống đều phải thông qua bằng trực quan và được tiến hành một cách đồng bộ; trước khi triển khai ra diện rộng cần lựa chọn những hộ gia đình làm kinh tế giỏi (từ việc tổ chức sản xuất, cách phòng chống thiên tai, dịch bệnh, quản lý chi tiêu gia đình, đầu tư phát triển sản xuất tốt) làm mẫu đạt kết quả tốt “mắt thấy tai nghe”, từ đó tổ chức cho các hộ nông dân khác học tập làm theo.
 
 Nhà doanh nghiệp giúp hộ kinh tế gia đình nông dân dân tộc thiểu số: chế biến nông - lâm sản và hộ gia đình nông dân dân tộc thiểu số phải có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và cùng chia sẻ “lỗ, lãi”, để đảm bảo lợi ích kinh tế chung cần phải xác định rõ về quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên (doanh nghiệp và hộ nông dân).
 
 Đối với hộ gia đình cung cấp đủ nguyên liệu về số lượng đảm bảo chất lượng (phẩm cấp, quy cách, an toàn vệ sinh thực phẩm), tránh hiện tượng khi thấy giá cả thị trường lên cao, người dân không bán nguyên liệu cho nhà máy (doanh nghiệp) mà đem bán ra thị trường; phải đồng hành cùng doanh nghiệp chia sẻ những khó khăn trong thu mua nguyên liệu cho sản xuất.
 
 Đối với doanh nghiệp phải tổ chức hợp lý các đại lý thu mua nguyên liệu giúp cho nông dân có thể bán sản phẩm được thuận lợi, tránh hiện tượng ép cấp, ép giá, nhiều trường hợp doanh nghiệp phải ra tay giúp nông dân thực hiện bao tiêu sản phẩm và chia sẻ lãi với nông dân, giúp cho họ bù đủ chi phí sản xuất và có lãi.
 
 Đầu tư tiền vốn cho nông dân phát triển kinh tế hộ gia đình, thực hiện thông qua mô hình “Doanh nghiệp - Hộ gia đình và tham gia của ngân hàng”.
 
 Đầu tư mua giống vật nuôi, cây trồng, phân bón, thức ăn phát triển vùng nguyên liệu, v.v. cần một lượng tiền vốn nhất định, song không phải hộ gia đình nào cũng đủ vốn cho đầu tư phát triển sản xuất. Do vậy sự tham gia của ngân hàng là hết sức cần thiết thông qua hoạt động cho vay đối với các hộ gia đình nông dân.
 
 Theo cơ chế hộ gia đình cam kết sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả; ngân hàng cho vay vốn ưu đãi, thủ tục đơn giản, thuận lợi. Doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm cho nông dân.
 
 Để đảm bảo nguồn cung về nguyên liệu một cách ổn định và bền vững doanh nghiệp phải quan tâm xây dựng vùng nguyên liệu.
 Thông qua sự tham gia tích cực các hộ gia đình nông dân, nhất là vùng dân tộc và miền núi sẵn có tiềm năng đất đai và lao động. Các hộ gia đình nông dân muốn vươn lên làm giàu bằng con đường sản xuất hàng hoá phải có sự giúp đỡ từ các doanh nghiệp (bao tiêu sản phẩm) và của ngân hàng (cho vay vốn).
 
 Làm tốt những vấn đề nêu trên không chỉ góp phần củng cố khối liên minh công nông mà còn thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển, thực hiện tốt mục tiêu xoá đói giảm nghèo ở vùng nông nghiệp, nông thôn miền núi.
 
 Đồng bào dân tộc thiểu số và vùng miền núi trong nhiều năm qua đã được Đảng và Nhà nước quan tâm ưu tiên đầu tư (được bao cấp). Do vậy một bộ phận dân cư còn có tư tưởng ỷ lại trông chờ vào Nhà nước, tư tưởng này cần sớm được khắc phục. Cần phải khơi dậy tinh thần tự lực tự cường, ý chí khát vọng vươn lên làm giàu, tìm tòi các cơ hội sản xuất kinh doanh nhằm khai thác mọi tiềm năng về đất đai, lao động sản xuất nhiều hàng hoá nông sản chất lượng cao, sản phẩm sạch, thực hiện làm giàu bền vững, thân thiện với môi trường.
 
 Để trở thành một đơn vị kinh tế kinh doanh có hiệu quả, mỗi hộ gia đình có kế hoạch sản xuất - kinh doanh phù hợp với trình độ sản xuất, điều kiện cơ sở vật chất và nhu cầu thị trường.
 
 Đổi mới việc quản lý kinh tế của từng hộ gia đình nông dân người dân tộc thiểu số bắt đầu từ khâu tổ chức sản xuất: lựa chọn vật nuôi, cây trồng cho năng suất, chất lượng cao phù hợp đất đai, khí hậu, sản xuất đúng thời vụ; chăm sóc vật nuôi, cây trồng đúng kỹ thuật; thực hiện thâm canh tăng vụ, tăng hệ số sử dụng đất đai và cơ sở vật chất kỹ thuật sẵn có; cho đến khâu hạch toán chi phí, quản lý kinh tế gia đình cần từng bước đi vào nề nếp đây là khâu yếu của các hộ gia đình nông dân nói chung, hộ đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng. Việc ghi chép, hạch toán chi phí giúp cho hộ nông dân thấy rõ lỗ lãi trong quá trình sản xuất kinh doanh giúp cho việc quản lý kinh tế gia đình được tốt hơn, từ đó có thể dành một phần lãi đầu tư mở rộng phát triển sản xuất. Thực tế cho thấy một số hộ gia đình nông dân người dân tộc thiểu số khi được vay vốn đã sử dụng vốn không đúng mục đích: mua các vật dụng gia đình và chi dùng cho sinh hoạt…, lâm vào nợ nần đi vào vòng luẩn quẩn của đói nghèo.
 
 Do đó việc tổ chức sản xuất khoa học, hạch toán chi phí đầy đủ giúp cho hộ gia đình kiểm soát chi tiêu, nâng cao hiệu quả sản xuất góp phần nâng cao thu nhập kinh tế hộ gia đình.
 
 Hộ nông dân nông nghiệp người dân tộc thiểu số và miền núi không thể tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả kinh tế cao và vươn lên làm giàu nếu không có sự vào cuộc của mọi cấp, mọi ngành (đồng bộ từ nhận thức đến hành động). Đó là sự trợ giúp có hiệu quả của Nhà nước, Nhà khoa học, Nhà doanh nghiệp và sự nỗ lực của các hộ gia đình tạo sự chuyển biến mạnh mẽ giúp hộ gia đình nông dân nông nghiệp dân tộc thiểu số, sản xuất kinh doanh có hiệu quả vươn lên làm giàu thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo thúc đẩy kinh tế-xã hội miền núi phát triển, góp phần thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn.

ThS. Nguyễn Văn Dũng

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,899,480


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.3 secs