Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 27/02/2009
Việc giao đất, rừng ở Tây Nguyên đối với đồng bào dân tộc thiểu số


Rừng kinh tế ở Bắc Hà (Lào Cai).

Đất và rừng là những yếu tố quan trọng để Tây Nguyên phát triển bền vững, nhưng do nhiều nguyên nhân nên việc sử dụng đất, rừng ở Tây Nguyên thời gian vừa qua đang đặt ra những vấn đề xã hội bức xúc, với tình trạng phân hóa như hiện nay không thể nói là không có mâu thuẫn về vấn đề đất đai giữa đồng bào dân tộc tại chỗ cũng như đồng bào các nơi đến (cả đồng bào Kinh và các dân tộc thiểu số từ nơi khác đến).

Thực tế chứng minh rằng xung đột về đất đai cho dù bắt nguồn từ sự bất bình đẳng trong quá khứ hay hiện tại đều có tác động đến những vấn đề khác của đời sống xã hội, cả vấn đề an ninh và trật tự xã hội. Để góp phần khắc phục những hạn chế trên cần quy hoạch lại đất, rừng Tây Nguyên.
 
 Thực hiện việc quy hoạch lại đất, rừng trước tiên phải tiến hành kiểm tra, rà soát lại toàn bộ quỹ đất, như đất của các nông, lâm trường cần thu hồi; diện tích đất có thể khai hoang; thu hồi đất cấp sai, đất sử dụng kém hiệu quả; vận động nhượng lại đất vườn của các hộ có nhiều đất… Trên cơ sở điều tra mà tiến hành quy hoạch lại đất, rừng, việc quy hoạch phải căn cứ vào nhu cầu sử dụng đất đai, nhu cầu các loại sản phẩm trên thị trường, tính toán khả năng kinh tế, môi trường để quy hoạch cho thật sự phù hợp.
 
 Các tỉnh Tây Nguyên cần khẩn trương hoàn chỉnh việc xây dựng chiến lược phát triển lâm nghiệp, quy hoạch phát triển hàng năm, năm năm, mười năm trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, cũng như chiến lược chung của toàn vùng. Về rừng, cần ổn định dài hạn cả 3 loại rừng (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất) cả về văn bản pháp lý lẫn địa giới cụ thể ngoài thực địa. Đối với rừng phòng hộ và rừng đặc dụng phải kiện toàn lại tổ chức quản lý trên cơ sở chức năng, quyền lợi rõ ràng; đối với rừng sản xuất thì tổ chức quy hoạch, sắp xếp lại các lâm trường nhằm đảm bảo tính thống nhất trong việc thực hiện chiến lược quy hoạch và phát triển rừng nói chung, phát triển ngành lâm nghiệp nói riêng.
 
 Quy hoạch đất, rừng gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch các khu dân cư theo hướng phát triển. Quy hoạch đất đai gắn với việc hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây thực phẩm, gắn với việc xây dựng hệ thống công nghiệp chế biến ở Tây Nguyên. Quy hoạch đất đai phục vụ cho việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý theo hướng tăng diện tích cây điều cà phê, cao su, hồ tiêu…
 
 Quy hoạch đất ở Tây Nguyên phải gắn với quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, đời sống, bảo đảm cho công tác định canh định cư có hiệu quả. Cần quy hoạch lại đất, rừng của các nông - lâm trường quản lý, đất sản xuất và đất ở cho đồng bào các dân tộc thiểu số, cũng như đất cho đồng bào các nơi đi kinh tế mới.
 
 Do khí hậu, đất đai và địa hình phức tạp ở Tây Nguyên nên công tác quy hoạch phải tính toán kỹ trên những căn cứ khoa học. Quy hoạch phải tạo điều kiện phân bố lại lao động, dân cư khai thác các nguồn lực của đất nước và lợi thế của khu vực có hiệu quả, phát triển kinh tế vùng đồng bào các dân tộc có hiệu quả theo hướng sản xuất hàng hoá tiến tới mở cửa, hợp tác với bên ngoài. Quy hoạch phải đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, gắn phát triển kinh tế với quốc phòng và an ninh. Bên cạnh việc quy hoạch lại đất, rừng cần tiếp tục cấp đất ở, và đất sản xuất, tiến tới thực hiện chính sách định mức hạn điền cho đồng bào các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên. Theo Quyết định 132 của Thủ tướng Chính phủ, các tỉnh Tây Nguyên đã cấp đất ở và đất sản xuất cho đồng bào các dân tộc thiểu số nhưng vẫn còn hạn chế. Do vậy, cần tiếp tục cấp đất để rút ngắn mức bình quân chênh lệch, giải quyết vấn đề này theo các hướng sau: Tiếp tục khai hoang những vùng đất chưa sử dụng theo quy hoạch đã phê duyệt.
 
  Hiện còn khoảng 112.523 ha có khả năng nông nghiệp chưa được sử dụng, cần khai hoang và cấp cho đồng bào dân tộc tại chỗ; Thu hồi phần đất “dư thừa” của các nông - lâm trường giao cho đồng bào sử dụng. Trước mắt thu hồi diện tích ruộng nước, diện tích cây hàng năm, cây lâu năm mới trồng, diện tích chưa sử dụng của nông - lâm trường để cấp cho đồng bào tại chỗ sử dụng; Nhà nước dùng ngân sách mua lại đất của những hộ có nhiều đất trong phạm vi liền kề với buôn làng của đồng bào các dân tộc thiểu số để cấp cho đồng bào, việc này coi như đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của miền núi; Tạo điều kiện để chuyển một bộ phận đồng bào các dân tộc thiểu số tại chỗ sang kinh doanh nghề rừng và các nghề khác. Theo tính toán của một số nhà nghiên cứu có thể phân loại và chuyển từ 20 - 25% số hộ đồng bào dân tộc thiểu số vào làm ở các nông - lâm trường, nhất là lực lượng thanh niên. Khôi phục, phát triển các làng nghề thủ công truyền thống.
 
 Đồng thời từng bước giao rừng và khoán bảo vệ rừng theo tinh thần quyết định 304/2005QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Việc giao rừng, khoán bảo vệ rừng đối với hộ và cộng đồng dân cư là nhằm khôi phục và phát triển rừng ở Tây Nguyên, là cơ sở bảo đảm phát triển bền vững cho vùng Tây Nguyên và các vùng phụ cận, nhất là các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ. Đồng thời, tạo việc làm, nâng cao thu nhập đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, góp phần ổn định chính trị và an ninh quốc phòng. Việc thực hiện Quyết định 304/2005/QĐ-TTg thời gian qua đạt được một số kết quả khả quan; tuy nhiên, điều dễ nhận thấy là các địa phương triển khai vẫn còn chậm, đạt kết quả thấp so với yêu cầu đề ra, trong những tới cần khắc phục tình hình này.
 
 Theo tờ trình của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn số 3078 ngày 08 tháng 11 năm 2007, thì tổng diện tích đất lâm nghiệp của Tây Nguyên là 3.350.346,3 ha, trong đó: Rừng đặc dụng có 493.754,8 ha; rừng phòng hộ có 634.332,1 ha và rừng sản xuất có 2.222.259,4 ha.
 
 Với diện tích đất lâm nghiệp như vậy thì việc giao rừng, khoán bảo vệ rừng là việc lớn có ý nghĩa chiến lược, do vậy, cần nghiên cứu và tiến hành các nội dung sau:
 
 Một là, kiểm tra, rà soát lại lại toàn bộ diện tích rừng, đất rừng nằm trong quyền sử dụng của các thành phần xã hội nhằm thực hiện việc giao khoán cho phù hợp với thực tế, khắc phục tình trạng giao khoán không theo kế hoạch, quy hoạch. Trong công tác giao đất, rừng cần xác định: Chỉ giao rừng và đất trồng rừng cho các tổ chức, cá nhân thật sự có nhu cầu sản xuất lâm nghiệp, hoặc nông - lâm kết hợp trên diện tích được giao. Để tiếp tục thực hiện việc giao đất, rừng cần tổ chức rút kinh nghiệm việc giao đất, rừng ở những khu vực rừng gần dân, những khu vực đã xảy ra tình trạng xâm canh hoặc những nơi có thế xảy ra những vi phạm về quản lý rừng. Phải gắn công tác giao rừng với ranh giới hành chính nhằm tạo thuận lợi cho công tác quản lý sau này.
 
 Việc giao rừng cho nhân dân quản lý cần phải đánh giá kỹ chất lượng của từng lô rừng để áp dụng hình thức giao khoán. Đồng thời, xây dựng phương án tác động vào lô rừng (làm giàu, nuôi dưỡng…) để từ đó có kế hoạch đầu tư và đưa ra mức hưởng lợi cho các đối tượng cụ thể.
 
 Hai là, rà soát, điều chỉnh lại ranh giới các lâm trường quốc doanh, các ban quản lý rừng cho phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch phát triển lâm nghiệp. Ranh giới của các lâm trường, ban quản lý sau kết quả rà soát phải được phân định rõ ràng trên bản đồ, ở thực địa và phải được cắm mốc kiên cố. Trên cơ sở đó, Uỷ ban nhân dân tỉnh ra quyết định giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho các công ty theo quy định của pháp luật. Trước khi giao rừng cho các nông - lâm trường phải kiểm kê, đánh giá lại diện tích, trữ lượng, quy ra giá trị bằng tiền của rừng để giao cho các đơn vị này kinh doanh hay quản lý, bảo vệ. Hàng năm cơ quan chức năng phải kiểm tra đánh giá việc kinh doanh, bảo vệ rừng của các chủ rừng. Sau 5 năm phải tiến hành kiểm kê, đánh giá lại vốn rừng đã giao để có chế độ khen thưởng hoặc xử lý theo pháp luật đối với trường hợp làm giảm vốn rừng.
 
 Cùng với việc rà soát, điều chỉnh lại ranh giới các lâm trường cần gắn với quá trình sắp xếp lại sản xuất trên địa bàn vùng đồng bào các dân tộc thiểu số theo hướng giao đất, khoán rừng ổn định cho hộ dân; chuyển phần lớn các nông lâm trường về cho địa phương quản lý.
 
 Việc giao rừng, khoán bảo vệ rừng cần chú ý vấn đề sau đây: giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số là giao tư liệu sản xuất chứ không phải thuê coi rừng lấy tiền công. Cần có những quyết sách mạnh mẽ hơn trong việc huy động người dân tộc thiểu số tại chỗ tham gia vào quá trình xã hội hoá nghề rừng, coi đây là hướng đi cần thiết, đúng đắn. Với diện tích và đất lâm nghiệp hiện có, nếu tổ chức tốt và quyết tâm cao thì có thể huy động từ 40 - 50 ngàn hộ đồng bào dân tộc tại chỗ tham gia sản xuất, kinh doanh nghề rừng.
 
  Vì thế, cần có những dự án dài hạn, đầu tư kinh phí lớn để cấp vốn và lương thực cho đồng bào trồng rừng, phát triển nghề rừng, tập trung thâm canh rừng và tiến tới tự sống được với nghề rừng đó là giải pháp tổ chức sản xuất bền vững ở Tây Nguyên. Mặt khác, nên chuyển phần lớn chức năng kinh doanh sang cho hộ làm nghề rừng, còn các lâm trường chỉ làm vai trò hướng dẫn, chuyển giao kỹ thuật, bao tiêu sản phẩm khi hộ kinh doanh rừng có yêu cầu. Nhà nước cần có chính sách hưởng lợi từ rừng, cho phép người dân được hưởng nhiều hơn từ việc khai thác lâm sản phụ, lâm nguyên liệu từ rừng trồng, đồng thời tăng cường kiểm soát chặt chẽ việc khai thác lâm sản nhằm bảo vệ và phát triển vốn rừng.
 
 Ba là, thực hiện các chính sách hỗ trợ và hưởng lợi cho người dân sau khi nhận khoán, bảo vệ rừng.
 
 Về chính sách hỗ trợ: Đối với các hộ nhận khoán bảo vệ rừng theo dự án trồng mới 5 triệu ha rừng từ các năm trước đây, nếu hết thời hạn nhận khoán theo quy định của dự án (5 năm) mà chưa có khả năng hưởng lợi từ rừng thì nên cho phép kéo dài thêm thời hạn nhận khoán - thời hạn này do các tỉnh quyết định theo thực tế của từng địa phương; Đối với người được giao rừng thực hiện các chính sách hỗ trợ về lương thực (nơi thiếu lương thực). Thực hiện việc cung cấp giống cây, vật tư trồng rừng cho các hộ được giao rừng theo Quyết định số 100/2007/QĐ-TTg ngày 06 tháng 7 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29 tháng 7 năm 1998 về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg về một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007- 2015.
 
 Dựa theo các văn bản trên, quá trình thực hiện cần chú ý một số vấn đề sau:
 
 Cho phép các địa phương vận dụng việc hỗ trợ gạo cho người dân nghèo theo Quyết định 304 được quy đổi giá trị để hỗ trợ bằng tiền, chỉ nơi nào người dân không thể mua lương thực thì mới hỗ trợ bằng hiện vật.
 
 Các hộ đồng bào dân tộc trong diện thiếu đất sản xuất theo Quyết định 132, 134 được giao rừng, khoán bảo vệ rừng, nếu có nguyện vọng được sử dụng phần diện tích đất chưa có rừng, hoặc rừng nghèo kiệt trong khu rừng được giao để khai hoang trồng cây nông nghiệp, cây công nghiệp thì được hưởng các chính sách hỗ trợ như: kinh phí khai hoang, nước sinh hoạt… theo Quyết định số 134 của Thủ tướng Chính phủ.
 
 Về chính sách hưởng lợi: Theo Quyết định 304/2005/QĐ-TTg và thực tế của các địa phương Tây Nguyên, chúng tôi nhận thấy các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư khi được Nhà nước giao rừng hoặc được nhận khoán bảo vệ rừng, đất trồng rừng nên tuỳ theo loại rừng và trạng thái rừng hoặc cấp tuổi rừng khi được giao hay nhận khoán bảo vệ thì nên được hưởng tiền công, các sản phẩm từ rừng và được tham gia các hoạt động dịch vụ như sau: Được hưởng tiền công, tiền hỗ trợ đầu tư, cây giống theo quy định của từng chương trình, dự án, không theo quy định chung, vì đôi khi quy định chung chưa sát hợp với thực tế; Được khai thác lâm sản, củi ngoài gỗ, trường hợp muốn khai thác các loài quý, hiếm nằm trong danh mục động vật, thực vật rừng theo quy định của buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) phải thực hiện theo quy định của Chính phủ, việc làm này nhằm tránh sự tuỳ tiện trong quá trình thực hiện việc hưởng lợi; Được hưởng những sản phẩm nuôi trồng kết hợp, nhưng không ảnh tới việc bảo vệ và phát triển rừng.
 
 Cùng với việc giao đất, rừng và khoán bảo vệ rừng, cần phải sớm thành lập Quỹ bảo vệ và phát triển rừng như đã được quy định trong Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Quỹ này sẽ được huy động từ nhiều nguồn tài trợ của tổ chức, hộ gia đình cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế và nguồn đóng góp của tổ chức, cá nhân khai thác sử dụng rừng, chế biến, mua bán, xuất khẩu nhập khẩu lâm sản, hoặc hưởng lợi và có ảnh hưởng từ rừng.
 
 Bốn là, nâng cao trách nhiệm và năng lực quản lý điều hành của chính quyền địa phương về bảo vệ, phát triển rừng.
 
 Để có thể làm tốt chức năng này, các địa phương cần tổng kết việc thực hiện Quyết định 245/TTg của Thủ tướng Chính phủ về phân cấp quản lí rừng, từ đó nâng cao trách nhiệm quản lý của chính quyền các cấp. Theo đó, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh phải chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Tổ chức điều tra phân loại rừng, thống kê diện tích và trữ lượng của từng loại rừng, lập bản đồ rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Chỉ đạo Uỷ ban nhân dân huyện theo dõi diễn biến tài nguyên rừng một cách cụ thể để có biện pháp xử lý kịp thời.
 
  Lập quy hoạch và kế hoạch bảo vệ, phát triển tài nguyên rừng trên địa bàn tỉnh; phê duyệt thiết kế khai thác rừng tự nhiên của các chủ rừng. Xác lập các khu rừng phòng hộ, các bảo tồn thiên nhiên, các khu rừng di tích lịch sử, văn hóa.
 
 Các huyện cần đẩy mạnh việc tổ chức giao rừng và đất lâm nghiệp, cấp và thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp đối với các đối tượng thuộc thẩm quyền quyết định của huyện. Chỉ đạo các xã theo dõi, kiểm tra việc thực hiện các hợp đồng giao đất, giao khoán rừng cho hộ và cộng đồng dân cư trên địa bàn. Cần tiếp tục nghiên cứu nhằm sửa đổi các văn bản xử lý vi phạm về phát triển, bảo vệ rừng, các chính sách hỗ trợ và hưởng lợi từ việc việc chăm sóc bảo vệ rừng. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện phải chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh về bảo vệ, phát triển rừng. Căn cứ quy hoạch, kế hoạch phát triển rừng của tỉnh để từ đó tổ chức thực hiện vấn đề này một cách cụ thể trên địa bàn, cũng như theo dõi diễn biến tài nguyên rừng, việc giao đất, giao rừng cũng như việc phòng chống cháy rừng.
 
 Đối với cấp xã trách nhiệm quản lý, bảo vệ, phát triển rừng cần được phân cấp cụ thể theo hướng quản lý trên địa bàn về các mặt: danh sách chủ rừng, diện tích ranh giới các khu rừng, khế ước giao rừng, trồng rừng giữa các tổ chức, hộ, cá nhân và gia đình trong xã. Lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ, phát triển rừng, sử dụng rừng trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch của huyện; phối hợp với kiểm lâm trên địa bàn tổ chức bảo vệ, quản lý rừng, phát hiện và ngăn chặn tận gốc những hành vi phá hoại rừng. Chỉ đạo các thôn buôn xây dựng và thực hiện quy ước quản lý, bảo vệ, xây dựng và sử dụng các khu rừng trên địa bàn xã phù hợp với pháp luật hiện hành.
 
 Phát triển lâm nghiệp toàn diện từ quản lý, bảo vệ, trồng, cải tạo làm giàu rừng đến khai thác, chế biến lâm sản, bảo vệ môi trường cho du lịch sinh thái. Dựa trên chủ trương chung của Chính phủ, các địa phương có thể có cơ chế, chính sách phù hợp cho phép khai thác lợi ích kinh tế từ rừng sản xuất và rừng tự nhiên theo nguyên tắc bền vững, lấy nguồn thu từ rừng để bảo vệ, phát triển rừng và làm giàu rừng.
 
 Đất, rừng ở Tây Nguyên là những vấn đề lớn liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhất là đến con người, những vấn đề được nêu trong bài viết này cũng chỉ mang tính chất tham khảo trên cơ sở khảo sát thực tế và những vấn đề đang được đặt ra mà lãnh đạo các tỉnh Tây Nguyên rất quan tâm, sự vận dụng phải tuỳ vào điều kiện cụ thể của mỗi vùng, mỗi dân tộc. 

PGS, TS Nguyễn Văn Nam

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,899,754


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.3 secs