Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 20/01/2009
Phong tục chơi hát bài chòi đầu xuân ở Quảng Nam
Bài chòi là một trò chơi dân gian dân đã ra đời từ rất lâu ở khu vực Duyên hải miền Trung Trung Bộ. Đặc biệt là ở Quảng Nam, bài chòi rất được phổ biến và là nhu cầu tinh thần không thể thiếu đối với nhân dân lao động mỗi khi tết đến xuân về.

Bài chòi có hình thức chơi tương tự như chơi lôtô với 32 tấm thẻ bài và không gian chơi diễn ra trong 9 chiếc chòi làm bằng tre lợp tranh hay rạ. Bài chòi thường được tổ chức chơi vào ngày mồng 1 Tết đến ngày khai hạ 7/1 âm lịch. Hiện nay ở Quảng Nam, hội bài chòi không chỉ gói gọn trong những ngày đầu xuân mà còn kéo dài cả tháng Giêng và là một tiết mục không thể thiếu trong các dịp lễ hội truyền thống lớn nhỏ. Hằng năm, vào những ngày đầu xuân, ngành Văn hoá Quảng Nam đều tổ chức liên hoan hô hát bài chòi giữa các địa phương. Đây là cách tốt nhất để giữ cho loại hình nghệ thuật truyền thống dân gian này không bị mai một; đồng thời tạo ra một không gian vui chơi, giải trí lành mạnh cho nhân dân trong dịp Tết cổ truyền của dân tộc.

Hội bài chòi thường được tổ chức ở những nơi công cộng rộng rãi, thoáng mát như ở ngã ba đầu làng, sân chợ, sân đình... Từ những ngày cận Tết (khoảng 25, 26 tháng Chạp), mọi người bắt đầu tất bật với công việc đốn tre, bện tranh để làm chòi. Người ta dựng 9 chòi bằng tre (gồm 8 chòi cho người chơi và 1 chòi cho anh Hiệu) ở những nơi đã định với sự giúp đỡ rất vô tư của nhân dân trong làng. Mái những chòi tre này được trang trí rất đẹp, trên nóc mỗi chòi đều cắm cờ hội. Trong mỗi chòi có ghế tre để ngồi và được treo một chiếc lồng đèn được làm rất cầu kỳ. Công việc dựng chòi bắt buộc phải hoàn tất trước đêm giao thừa để tối hôm đó chơi vài ván bài chòi lấy lệ.

Từ tờ mờ sáng Mồng 1 Tết, người ta bắt đầu tổ chức khai hội bài chòi. Những cụ già có vai vế trong làng làm lễ cúng thần linh, thổ địa, thành hoàng... cầu cho một năm mới gặp nhiều điều an lành, mùa màng bội thu, làng xóm trù phú. Trong khi đó tiếng trống hội liên tục vang lên báo hiệu và thôi thúc dân làng đến chơi và nghe hô hát bài chòi. Nhân dân từ làng trên, xóm dưới trong những bộ trang phục đẹp nhất nô nức dắt díu nhau đến chơi bài chòi đầu năm tìm sự may mắn:

Ham mê cái thứ bài chòi/ Bỏ con hắn khóc cho lòi rún (rốn) ra/ Bài chòi cứ đánh mà chơi/ Dẫu mà để ruộng có tôi trông chừng/ Tiết xuân thôn xóm tưng bừng/ Kẻ chào thưa thím, người chào thưa anh/ Mấy chú chạy hiệu thiệt lanh (nhanh)/ Miệng hô, rút thẻ, loanh quanh chín chòi.

Các người chơi lần lượt chiếm các chòi, tìm cho mình một chỗ ngồi thật thoả mái, những người còn lại thì đứng ngồi bao quanh 9 cái chòi để xem anh Hiệu vừa diễn trò vừa hát. Những người giúp việc cải trang thành những anh lính lệ đi chân đất và đội nón lá màu đỏ chạy đi chạy lại bán các thẻ bài và “cờ ngân” cho người chơi. Vật chơi là bộ bài có 32 thẻ bài, chia đều cho 10 người, mỗi người 3 quân, 2 quân để lại. Người cầm chịch cuộc chơi (gọi là anh Hiệu hay Cái) cũng có một bộ thẻ bài như vậy đựng trong một ống tre trên một cây nọc cao (cây nọc cao vừa đủ để anh Hiệu không nhìn thấy các quân bài nhưng vừa đủ để rút được nó).

Cuộc chơi bắt đầu khi anh Hiệu (mặc áo dài khăn đóng chỉnh tề) cất tiếng hò một bài lục bát hoặc song thất lục bát bằng chất giọng rặt phương ngữ tiếng Quảng Nam không lẫn vào đâu được.

Gió Xuân phảng phất nhành tre/ Xin mời cô bác lắng nghe bài chòi.

Bà con cô bác lẳng lặng mà nghe/ Tui hô cái quân bài, con gì nó ra đây...

Sau câu hò mở đầu, anh Hiệu bắt đầu đưa tay rút một quân bài trong ống tre và hát vài câu ca dao hoặc bài vè có liên quan đến quân bài đó, sau đó xướng tên quân bài rõ to cho tất cả mọi người đều nghe. Những người dự hội im lặng lắng nghe lời hô của anh Hiệu để suy đoán hoặc tưởng tượng quân bài gì sẽ ra. Tất cả mọi người đều hào hứng lắng nghe, đặc biệt là những người chơi, hy vọng mình sẽ “tới”, họ thả hồn theo những câu hát của anh Hiệu để cầu mong sự may mắn đến với mình. Trong số 10 người chơi ai có quân bài trùng với tên quân bài anh Hiệu vừa xướng thì hô to “có đây”, lập tức một anh lính lệ sẽ chạy lại và trao cho người đó một lá cờ nhỏ (loại cờ xéo) và đổi lấy quân bài. Ván chơi kết thúc khi một trong số 10 người chơi có đủ 3 lá cờ liên tục, gọi là Tới (thắng cuộc) và người thắng cuộc sẽ nhận được một món quà như một cái lồng đèn, cái phích nước, mứt, bánh kẹo, hạt dưa... Và cứ như thế ván khác lại tiếp tục chơi, hết người này đến người khác tham gia chơi tìm sự may mắn đầu năm. Mỗi lần có người tới, tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng kèn lại nổi lên rất vui và phấn khích.

Cuộc chơi bài chòi có sinh động, có rôm rả hay không còn phụ thuộc vào tài hô hát của anh Hiệu. Anh Hiệu phải là người có tài “ứng khẩu thành thơ”. Sự ứng khẩu linh hoạt của anh Hiệu có tác dụng thu hút và tập trung sự chú ý của mọi người tham dự hội. Anh Hiệu phải thuộc lòng hàng trăm bài thơ, bài vè, hàng ngàn câu ca dao; phải biết hát nam, hát khách, những làn điệu dân ca đặc trưng của những vùng miền xứ Quảng. Anh Hiệu liên tục hô những bài lục bát, những bài ca dao, dân ca, những bài vè trên nền nhạc dân gian. Trong câu hát của anh Hiệu, có thể bắt gặp được những lời tự sự về nhân tình thế thái, về niềm vui trong cuộc sống, bình yên trong lao động, về những sinh hoạt hằng ngày, ca ngợi tình làng nghĩa xóm, cách đối nhân xử thế..., hay phê phán những thói hư, tật xấu ở đời: Làm thân con gái lẳng lơ/Ngủ trưa đứng buổi dậy đo mặt trời/Quần áo thì rách tả tơi/Lấy rơm mà túm mỗi nơi một đùm/ Ngủ trưa huớ Ngủ trưa.

Hay: Rượu say mất hết tính người/ Cờ bạc, hút hít, vương rồi khó gỡ ra/ Sạch túi rồi đến sạch nhà/Bí đường, tắt lối phải ra làm liều/ Nhì bí huớ Nhì bí.

Hoặc: Thật lòng mà nói với nhau/ Đừng có nói móc mà đau nhân tình/ Hay gì méo mó quẩn quanh/ Nói móc là sanh sự, là sanh rầy rà/Tứ móc huớ Tứ móc.

Có những câu hát của anh Hiệu làm cho cả hội bài chòi cười nghiêng cười ngả bởi tính hài hước, vui nhộn, ý nghĩa sâu xa, tuy lời tục nhưng thanh, rất gần gũi, dân dã và đời thường:

Tối qua tôi đi ra gò/ Thấy anh thương chị bốn cái giò tréo ngoe/ Tứ cẳng huớ Tứ cẳng

Hay: Cu tôi ăn đậu ăn mè/ Ăn chi của chị chị đè con cu tui/ Chín cu huớ Chín cu

Hay: Lấy chồng từ thuở mười ba/ Chồng chê em bé không nằm với em/ Đến khi mười tám, đôi mươi/ Em nằm dưới đất chồng lôi lên giường/ Lên giường anh nói anh thương/ Một anh thương, hai anh thương, ba anh thương/ Anh thương chi hung rứa/ Cho bốn cái cẳng giường nó rung rinh/ Tứ cẳng huớ Tứ cẳng.

Chính vì tính dân dã, mộc mạc và vui nhộn nên trò chơi dân gian này thu hút rất nhiều người tham gia và xem; đông nhất là những người già, phụ nữ và trẻ em. Họ đắm mình trong những làn điệu dân ca quen thuộc, thả hồn theo những câu hò, điệu hát mộc mạc, dân dã; đồng thời cũng muốn tìm được sự may mắn đầu năm. Cái thú vị của trò chơi bài chòi không phải mang tính bài bạc đơn thuần mà ý nghĩa của nó còn vươn xa hơn loại hình sinh hoạt văn nghệ dân gian: là nơi trổ tài vừa biểu diễn, vừa hát hò, đối đáp; là nơi gặp gỡ của bà con làng trên xóm dưới... và đặc biệt đây còn là nơi nam thanh, nữ tú đến gặp gỡ, tìm hiểu, trao duyên. Có thể nói, hô hát bài chòi đầu Xuân là một trong những nét văn hoá truyền thống dân gian rất độc đáo, riêng biệt và mang tính đặc trưng của vùng đất và con người xứ Quảng.

Mai Hồng Lâm
 

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,917,682


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs