Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 20/01/2009
Tìm lời giải cho bài toán giảm nghèo và phát triển bền vững ở các huyện nghèo nhất hiện nay
Chính phủ đã quyết định ban hành cơ chế, chính sách và giải pháp hỗ trợ giảm nghèo đối với các huyện có tỷ lệ nghèo cao đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020; đây là một quyết định đúng đắn và cần thiết để tạo điều kiện cho các huyện này phát triển.

 Đối tượng cần đầu tư giúp đỡ là các huyện nghèo nhất và chủ yếu là các huyện miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Song, xác định những tiêu chí, nội dung đầu tư, cơ chế chính sách như thế nào sao cho đủ mạnh có tính đột phá để chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước được thực hiện tốt nhất, giúp các huyện khó khăn nhất phát triển bền vững là một bài toán đang tiếp tục tìm lời giải đáp.

Trước hết, xin đồng tình và ủng hộ rất cao ý kiến chỉ đạo và gợi mở của Thủ tướng trong phiên họp Chính phủ giữa kỳ tháng 11/2008 và ý kiến của một số nhà khoa học tập trung bàn về cơ chế, chính sách hỗ trợ giảm nghèo, phát triển bền vững đối với những huyện nghèo nhất hiện nay. Bài viết này xin nêu quan điểm và đề xuất một số ý kiến nhỏ xung quanh vấn đề trên.

Thứ nhất, cần khẳng định rằng những chính sách của Nhà nước nhằm phát triển kinh tế-xã hội miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số trong thời gian qua như Chương trình 132, 135, Quyết định 168, 186, 173 và gần đây là Quyết định 134… đã đạt được những kết quả quan trọng, làm thay đổi cơ bản diện mạo nông thôn miền núi, góp phần cải thiện đời sống của một bộ phận đồng bào các dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan các chương trình, dự án trên mới tập trung chủ yếu cho nhiệm vụ xây dựng cơ sở hạ tầng, các nhiệm vụ khác tuy có triển khai nhưng chưa thực sự quyết liệt, có việc chưa thực sự bài bản vì vậy kết quả đạt chưa được như mong muốn.

Hiện nay cả nước còn 61 huyện nghèo nhất với số dân khoảng 2,4 triệu người, trong đó có tới 90% là đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống và đang sở hữu hơn 4 triệu ha rừng chiếm 80% diện tích tự nhiên. Với điều kiện như vậy dứt khoát đồng bào các dân tộc nơi đây phải sống chủ yếu bằng nghề rừng, xóa đói giảm nghèo bằng nghề rừng và làm giàu từ nghề rừng.

Vì vậy đề nghị Nhà nước cần có cơ chế, chính sách để đồng bào các dân tộc ở các huyện nghèo nhất hiện nay từng bước chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang làm nghề rừng là chủ yếu. Theo đó đưa diện tích nương, rẫy trên nền đất dốc đang trồng cây lương thực, cây thực phẩm hoặc cây công nghiệp hiệu quả thấp sang trồng rừng kinh tế. Thực hiện chính sách giao khoán ưu đãi cho các hộ trong việc bảo vệ, chăm sóc, tu bổ và trồng rừng mới. Nhà nước thực hiện chính sách giao đất sản xuất nông nghiệp cho các hộ ở những nơi có điều kiện, đồng thời hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi cho đồng bào phát triển sản xuất, đặc biệt có chính sách cung cấp lương thực cho các hộ ít đất hoặc không có đất sản xuất để đồng bào yên tâm với nghề rừng.

Thứ hai, trong xây dựng cơ sở hạ tầng: đề nghị Nhà nước tiếp tục đầu tư nâng cấp và hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật gồm: mạng lưới giao thông từ các khu trung tâm đến các địa bàn dân cư, các đường liên thôn, liên xã đảm bảo cho ô tô đi lại bốn mùa (cấp độ cứng hoá theo hướng trải nhựa hoặc bê tông).

Đưa điện lưới quốc gia về tới thôn, bản phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của đồng bào. Kiên cố hoá toàn bộ hệ thống kênh, mương thuỷ lợi, hệ thống nước sinh hoạt, trường, lớp học, trạm y tế, trung tâm hành chính, nhà sinh hoạt cộng đồng và các công trình kiến trúc khác. Đồng thời rà soát lại quy hoạch và tiến độ xây dựng các trung tâm cụm xã, tiến hành điều chỉnh, bổ sung quy hoạch cho phù hợp.

Thứ ba, về nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực: để tạo điều kiện cho con em các dân tộc thiểu số được đến trường; đặc biệt là con em các gia đình có hoàn cảnh khó khăn, con em các dân tộc thiểu số rất ít người; đồng thời cũng là cơ sở để đào tạo con em các dân tộc thiểu số học lên các bậc học cao hơn. Một mặt cần duy trì các trường học, lớp học, cấp học hiện có; mặt khác nghiên cứu xem xét mở thêm các trường học, lớp học, cấp học ở những nơi cần thiết tại các địa bàn dân cư. Thành lập Trường phổ thông Dân tộc nội trú bậc tiểu học và trung học cơ sở ở cấp xã (địa phương nào còn khó khăn có thể thành lập ở trung tâm cụm xã), nâng cấp Trường phổ thông Dân tộc nội trú huyện để đào tạo bậc phổ thông trung học. Đầu tư hoàn chỉnh để Trung tâm Giáo dục thường xuyên của các huyện thành Trung tâm Dạy nghề cho con em đồng bào các dân tộc.

Thứ tư, tiếp tục chỉ đạo triển khai thực hiện các chương trình, dự án hiện có trên các lĩnh vực. Nghiên cứu ban hành một số chính sách ưu đãi khác như: chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách chuyển giao khoa học - công nghệ, chính sách tín dụng, chính sách thu hút lao động có trình độ cao về làm việc tại các xã nghèo, huyện nghèo.

Thứ năm, thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác giảm nghèo bằng cách tổ chức thành các nông, lâm trường; lực lượng nòng cốt là các đơn vị quân đội, các đơn vị thanh niên xung phong, thanh niên tình nguyện, các nhà đầu tư, các đội trí thức trẻ đến các huyện nói trên tham gia phát triển kinh tế xã hội, giúp dân xóa đói giảm nghèo.

Hỗ trợ giảm nghèo và phát triển bền vững cho 61 huyện nghèo nhất hiện nay là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Xác định đúng nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm, việc làm trước, việc làm sau, tránh đầu tư dàn trải là cực kỳ quan trọng. Một số nội dung Chính phủ đã ban hành thành cơ chế, chính sách; một số nội dung còn đang trao đổi, bàn bạc trên các diễn đàn. Với tâm huyết của mình, mong các cơ quan hoạch định chính sách, các nhà khoa học và những ai quan tâm tham khảo để cùng nhau đi tìm lời giải cho bài toán nói trên.

Đỗ Trọng Cố
 

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,913,033


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs