Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 20/01/2009
Nhìn lại 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khoá IX) về công tác dân tộc
Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã thông qua bốn Nghị quyết quan trọng: Về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh (số: 23-NQ/TW); về công tác dân tộc (số: 24-NQ/TW); về công tác tôn giáo (số: 25-NQ/TW) và tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (số: 26-NQ/TW).

Đoàn kết các dân tộc là bộ phận và nội dung quan trọng của đại đoàn kết toàn dân tộc. Vấn đề dân tộc luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của nước ta. Vấn đề dân tộc được đặt ra và giải quyết trong tổng thể, theo phương hướng và nội dung cơ bản của nhiệm vụ phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, đồng thời hết sức chú ý đến tính đặc thù của từng vấn đề. Hội nghị Trung ương bảy (Khoá IX) đã ban hành Nghị quyết riêng về công tác dân tộc với những quan điểm, chủ trương, chính sách về vấn đề quan trọng này. Trong phạm vi bài viết này, xin trao đổi vài ý kiến về kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương về công tác dân tộc.

Tiếp tục phát huy những thành tựu của hơn 20 năm “Đổi mới”, các chính sách dân tộc tiếp tục thực hiện đã mang lại nhiều kết quả tác dụng thiết thực, hiệu quả tốt trong việc phát triển kinh tế xã - hội ở miền núi, vùng cao, vùng sâu vùng xa, biên giới, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Có thể tóm tắt trên một số mặt sau:

- Các chủ trương của Đảng đã được thể chế hoá bằng các văn bản pháp luật, cụ thể hoá thành các chương trình mục tiêu, các chính sách cụ thể và các dự án cụ thể đối với từng vùng, từng khu vục. Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn (Chương trình 135) đã đầu tư cho 2.410 xã thuộc 52 tỉnh với mức đầu tư hàng năm bình quân 800 triệu đồng/xã ở giai đoạn I.

Nay tiếp tục triển khai thực hiện giai đoạn II cho 1.841 xã và 3.149 thôn bản đặc biệt khó khăn, với tổng số vốn đầu tư trên 17 nghìn tỷ đồng; Chương trình hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt (Quyết định 134) đã giải quyết nhà ở cho hơn 340 nghìn hộ, đất ở cho 62 nghìn hộ, đất sản xuất cho 69 nghìn hộ và nước sinh hoạt cho 153 nghìn hộ đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn, với tổng số vốn hỗ trợ từ 2004 - 2008 trên 4.473 tỷ đồng; các Quyết định 32 về vay vốn phát triển sản xuất cho hộ đồng bào khó khăn, Quyết định 33 hỗ trợ di dân định canh, định cư... đã tạo nên bước chuyển biến khá căn bản trong phát triển kinh tế-xã hội, thay đổi từng bước cải thiện và nâng cao, tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân từ 3-5%/năm.

- Cơ cấu kinh tế vùng dân tộc và miền núi đã có sự chuyển dịch tích cực, tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng liên tục trong 5 năm qua. Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp phát triển, đảm bảo an ninh lương thực và tăng xuất khẩu. Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng bình quân năm sau cao hơn năm trước khoảng 20%. Đến nay 95% số xã đặc biệt khó khăn đã có đường ô tô đến trung tâm, có điện và trạm truyền thanh, 80% số xã có công trình nước sinh hoạt. Các địa bàn trọng điểm được quan tâm chỉ đạo trực tiếp của Trung ương về triển khai các chương trình, dự án về phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng-an ninh.

Văn hoá, xã hội có bước tiến bộ: gần 100% số xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số có nhà văn hoá hoặc điểm bưu điện văn hoá, nhà sinh hoạt cộng đồng. Các xã đặc biệt khó khăn được cấp miễn phí một số báo chí, ấn phẩm chuyên đề về dân tộc và miền núi. Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” thu được nhiều kết quả tốt; các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao và ngày hội văn hoá ở cơ sở được đẩy mạnh, góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá truyền thống của các dân tộc. Phát thanh, truyền hình của Trung ương và địa phương vùng dân tộc, miền núi có nhiều đổi mới về biên tập nội dung và thời lượng phát sóng bằng tiếng dân tộc.

- Giáo dục và đào tạo ở vùng dân tộc và miền núi tiếp tục được quan tâm củng cố và phát triển cả về quy mô và chất lượng. Cơ bản xoá được xã trắng về giáo dục mần non, 100% xã có trường tiểu học và trung học cơ sở, hầu hết các huyện miền núi có trường trung học phổ thông. Hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú và mô hình “bán trú, dân nuôi” tiếp tục được củng cố và phát triển. Chính sách cử tuyển học sinh dân tộc thiểu số vào trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp được điều chỉnh bổ sung hợp lý hơn theo hướng tăng cả về số lượng và chất lượng đào tạo. Chương trình dạy tiếng dân tộc bước đầu triển khai thực hiện trên diện ngày càng rộng hơn ở vùng dân tộc và miền núi, nhất là vùng sâu vùng xa đặc biệt khó khăn; đến nay trên 70% xã đặc biệt khó khăn đã đạt chuẩn xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học.

Công tác chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào dân tộc, miền núi có những chuyển biến rõ rệt. Trong những năm qua không có dịch bệnh lớn xảy ra; chương trình tiêm chủng mở rộng được đảm bảo; nhiều địa phương đã cấp thẻ bảo hiểm y tế cho đồng bào nghèo; 100% số huyện có bệnh viện đa khoa, hầu hết các xã có trạm y tế, đội ngũ y tá, bác sĩ được tăng cường, một số xã đặc biệt khó khăn đã có bác sĩ, nhiều thôn bản có nhân viên y tế và tủ thuốc, túi thuốc đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu khám chữa bệnh của đồng bào.

Hệ thống chính trị ở cơ sở vùng dân tộc và miền núi được chú trọng, củng cố trước hết là nâng cao vai trò lãnh đạo và chất lượng hoạt động của cấp uỷ và chính quyền cơ sở; phân công cấp uỷ viên, đảng viên phụ trách thôn bản.

Nhiều địa phương thực hiện tốt việc luân chuyển cán bộ tăng cường cho cơ sở, nhất là các địa bàn xung yếu, đặc biệt khó khăn ở vùng dân tộc. Hàng vạn cán bộ, sĩ quan, chiến sĩ lực lượng vũ trang (Quân đội, Công an, Biên phòng) tăng cường đến vùng sâu vùng xa phối hợp với cấp ủy, chính quyền, mặt trận và các tổ chức đoàn thể địa phương tham gia tuyên truyền vận động đồng bào các dân tộc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng bản làng văn hoá, thực hiện tốt công tác tự quản ở cơ sở.

Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở có nhiều tiến bộ; việc động viên, khuyến khích tạo điều kiện đối với các “già làng, trưởng bản” người có uy tín trong cộng đồng được quan tâm. Công tác phát triển đảng viên là người dân tộc thiểu số có nhiều chuyển biến tích cực; 100% số xã có tổ chức cơ sở đảng, trên 90% số thôn bản có chi bộ. Tỷ lệ đại biểu người dân tộc thiểu số trong Quốc hội (khoá XII) là 17,65%, Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh là 20,53%, cấp huyện là 20,18%, cấp xã là 24,44%, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh là 10,9%, cấp huyện là 11,32%, cấp xã 17,9%... Kết quả của công việc củng cố tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở vùng dân tộc đã góp phần rất quan trọng tạo sự chuyển biến tích cực trong phát huy sức mạnh tổng hợp, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; đã ngăn chặn, làm thất bại nhiều âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, vấn đề tôn giáo gây mất ổn định chính trị, kích động ly khai dân tộc, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Bên cạnh những kết quả trên, công tác dân tộc ở nước ta hiện đang đứng trước những khó khăn thách thức và những yêu cầu mới đặt ra:

- Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số là ưu tiên hàng đầu của cồng tác dân tộc. Ngoài các chính sách chung, cần có các chính sách cụ thể phù hợp với những địa bàn và đối tượng khác nhau (Ví dụ, Chương trình 135 giai đoạn II với bốn mục tiêu cụ thể là: Phát triển sản xuất nâng cao mức sống cho các hộ dân tộc thiểu số; phát triển cơ sở hạ tầng; phát triển các dịch vụ công cộng thiết yếu như điện, trường học, trạm y tế, nước sạch... và nâng cao đời sống tinh thần, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá truyền thống của các dân tộc). Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện các chương trình phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở vùng dân tộc và miền núi vẫn còn chậm; một số chương trình, dự án hiệu quả thấp, thu nhập của đồng bào thấp nhất là vùng sâu vùng xa đặc biệt khó khăn, tỷ lệ tái nghèo còn cao (tỷ lệ hộ nghèo ở vùng dân tộc là 47,7% so với bình quân chung cả nước là 14,7%, hơn 60 huyện có đồng bào dân tộc thiểu số chiếm đa số tỷ lệ hộ nghèo còn hơn 50%). Trình độ phát triển, khoảng cách giàu - nghèo giữa đồng bào dân tộc thiểu số so với mức trung bình cả nước và ngay ở trong một tỉnh, một huyện ngày càng dãn cách. Hiện vẫn còn hàng vạn hộ đồng bào dân tộc thiếu đất sản xuất; chính sách định canh, định cư chưa điều chỉnh kịp thời cho phù hợp; tình trạng di cư tự do đến các vùng có rừng để làm nương rẫy còn diễn biến phức tạp, chậm khắc phục.

- Sự nghiệp giáo dục và đào tạo vùng dân tộc và miền núi vẫn còn nhiều yếu kém về số lượng và chất lượng so với mức trung bình của cả nước ở các cấp học và ngành học. Hiện còn 9 tỉnh chưa đạt phổ cập trung học cơ sở; còn 3 dân tộc thiểu số chưa có người học đại học, cao đẳng; 05 dân tộc thiểu số mới chỉ có 1- 2 người học đại học, hơn 40 dân tộc chưa có người có trình độ tiến sĩ; số lao động qua đào tạo trong dân tộc thiểu số chưa được 10% so với mức phấn đấu đến 2010 cả nước đạt 40%... khoảng cách chênh lệch về mặt bằng dân trí giữa vùng dân tộc với các vùng khác cần được đặc biệt quan tâm trong công tác dân tộc.

- Về những khó khăn, thách thức đối với công tác dân tộc hiện nay, cần phải nói thêm rằng: Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở một số nơi vùng dân tộc còn tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định. Hoạt động của hệ thống chính trị ở một số cơ sở còn nhiều yếu kém, chưa phát huy tốt vai trò lãnh đạo của cấp uỷ, chính quyền và cán bộ, đảng viên. Cơ chế, chính sách đào tạo nguồn nhân lực, quy hoạch, bồi dưỡng cán bộ dân tộc… còn có mặt bất hợp lý, chậm được điều chỉnh, bổ sung và khắc phục. Nhận thức về công tác dân tộc trong những năm qua có nhiều chuyển biến tích cực, nhưng trong thực tiễn lãnh đạo chỉ đạo và tổ chức thực hiện có nơi, có lúc còn chung chung, hình thức; công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc còn có nhận thức chưa đầy đủ, thậm chí bị coi nhẹ, một số nội dung quan trọng chưa được quan tâm thực hiện; chưa quan tâm đúng mức đến tính đặc thù của từng vùng, từng đối tượng dân tộc để có những chính sách cụ thể phù hợp, hạn chế hiệu quả công tác dân tộc.

Để khắc phục những khó khăn, hạn chế và yếu kém nêu trên, những giải pháp cần tập trung trong công tác dân tộc đặt ra hiện nay:

- Giải pháp cần tập trung hàng đầu vẫn phải là giải quyết phát triển sản xuất, phát huy tiềm năng, lợi thế của từng vùng, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa, gắn sản xuất với chế biến các sản phẩm mà đồng bào sản xuất và khai thác được. Giảm mạnh số hộ nghèo (bình quân mỗi năm giảm 5%) cải thiện rõ rệt mức sống của các hộ gia đình nghèo, gia đình chính sách, từng bước nâng cao chất lượng dân số vùng các dân tộc thiểu số. Hỗ trợ, giúp đỡ và vận động đồng bào miền núi phát triển kinh tế rừng, nhất là trồng và khai thác rừng kinh tế gắn với giữ gìn tính đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường. Tập trung vận động và tổ chức cho đồng bào ổn định định canh, định cư, giải quyết cơ bản tình trạng di dân tự do.

- Tiếp tục đầu tư củng cố và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, đáp ứng phục vụ nhu cầu phát triển sản xuất và nâng cao đời sống vùng đổng bào các dân tộc thiểu số; gắn quy hoạch, xây dựng các điểm dân cư tập trung; từng bước hoàn thiện các trung tâm cụm xã, trung tâm xã và các thị tứ, kết nối với trung tâm huyện và các vùng nông thôn, miền núi.

- Chú trọng đẩy mạnh công tác đào tạo, quy hoạch, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, nâng cao cả về số lượng và chất lượng, trong đó trọng điểm là các địa phương có đông đồng bào dân tộc thiểu số để đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ trong tình hình mới. Cần phải có sự chuyển biến mạnh mẽ, rõ rệt trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo đối với tất cả các cấp học từ mầm non, phổ thông, cao đẳng, đại học, dạy nghề... Điều chỉnh, bổ sung hợp lý chính sách cử tuyển học sinh dân tộc, chính sách đối với giáo viên và học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú. Xây dựng và triển khai thực hiện chương trình đào tạo nguồn nhân lực và đào tạo nhân tài cho các dân tộc thiểu số, đáp ứng yêu cầu đặt ra của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong điều kiện hội nhập quốc tế.

- Chăm lo công tác sưu tầm, bảo tồn phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc, nâng cao mức hưởng thụ các thành quả văn hoá chung “thống nhất trong đa dạng” của cả nước. Xây dựng và nhân rộng các mô hình tốt, điển hình tiên tiến; động viên khuyến khích những người có úy tín trong cộng đồng các dân tộc thiểu số tham gia cùng hệ thống chính trị ở cơ sở quản lý xã hội, xây dựng bản làng văn hoá, văn minh. Tổ chức các Hội nghị biểu dương những gương tốt hàng năm ở địa phương và có thể 5 năm một lần tổ chức Đại hội đại biểu tiêu biểu toàn quốc biểu dương các tổ chức, cá nhân, những người có công, người có uy tín trong cộng đồng ở vùng dân tộc.

- Đổi mới và tăng cường công tác quản lý nhà nước về công tác dân tộc một cách thực chất và hiệu quả. Xây dựng và ban hành hệ thống dữ liệu cơ bản về dân tộc trên phạm vi cả nước. Kiện toàn hệ thống cơ quan công tác dân tộc trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương. Xây dựng hệ thống quan điểm về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, đúc rút các bài học kinh nghiệm, bổ sung lý luận về công tác dân tộc ở nước ta một cách toàn diện và thống nhất.

 Luôn xác định và thực hiện trên thực tế, trong mọi công việc cụ thể theo phương châm “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ” giữa các dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, coi đó là vừa mục tiêu vừa là nguyên tắc của công tác dân tộc ở nước ta hiện nay.

TS Bế Trường Thành
Phó Chủ nhiệm Thường trực UBDT

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,917,721


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs