Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 04/04/2005
Phát huy các thiết chế xã hội truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số trong tình hình hiện nay

TS. Lê Phương Thảo

Phó Giám đốc Phân viện Hà Nội, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

 

Ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các thiết chế xã hội không chính thống tồn tại song hành với thiết chế xã hội chính thống. Thậm chí, ở nhiều nơi, các thiết chế xã hội truyền thống có tác động rất mạnh mẽ và lâu dài đến đời sống của cư dân bản địa. Vì vậy, vấn đề đối với chúng ta không phải ở chỗ thủ tiêu các thiết chế xã hội không chính thống để thiết lập vị trí độc tôn của các thiết chế chính thống, mà là khai thác, định hướng, uốn nắn nó đi theo đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước dưới vai trò định hướng chủ đạo của các thiết chế chính thống nhằm phục vụ hiệu quả sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở địa bàn dân tộc thiểu số.

Trên quan điểm đó, bài viết này bước đầu đi vào tìm hiểu một số thiết chế xã hội không chính thống (truyền thống) đang tồn tại song hành với các thiết chế chính thống, chi phối mạnh mẽ sự phát triển kinh tế - xã hội vùng đa dân tộc, cụ thể là các thiết chế: Già làng - trưởng bản, Cán bộ - công chức; Luật tục - Luật pháp; đơn vị dân cư tự quản (làng, bản, buôn, phum, sóc); đơn vị hành chính (tỉnh, huyện, xã).

1. Về phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín trong đồng bào các dân tộc thiểu số.

Nếu coi già làng, trưởng bản như đội ngũ cán bộ hành chính ở cấp cơ sở sẽ không đúng, nhưng nếu không chú ý đầy đủ vai trò những đối tượng này thì lại là một thiếu sót lớn. Để sử dụng đúng đắn già làng, trưởng bản, người có uy tín thì cần làm cho đội ngũ cán bộ cơ sở các cấp nhận thức đầy đủ vị trí, tầm quan trọng của công tác tranh thủ những đội ngũ này và hướng dẫn cách thức tiến hành phù hợp.

Già làng, trưởng bản và người có uy tín là 3 thiết chế khác nhau. Già làng là người cao tuổi, có nhiều kinh nghiệm, được trọng vọng ở vùng dân tộc thiểu số. Trưởng bản là người đứng đầu đơn vị dân cư (buôn, làng, bản, phum, sóc), được cộng đồng dân cư bầu ra theo hình thức dân chủ trực tiếp thuần phác để điều hành mọi mặt đời sống dân cư theo hình thức tự quản. Người có uy tín có thể là già làng, trưởng bản, cũng có thể không nằm trong số đó, mà đặc trưng của nó là có quyền uy nhất định đối với nhân dân, có tiếng nói trọng lượng đối với nhân dân. Vì vậy, cần xây dựng những tiêu chí, chuẩn mực về già làng, trưởng bản, người có uy tín để từng địa phương xác định đúng đối tượng, tránh xác định tràn lan, thiếu giá trị thuyết phục đối với quần chúng.

Cũng không nên xem già làng, trưởng bản, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số là những người có khả năng toàn diện, mà vẫn còn những hạn chế nhất định cả về nhận thức, trình độ. Nhiều người vẫn hoạt động mê tín dị đoan và duy trì phong tục tập quán lạc hậu, còn ý thức dân tộc hẹp hòi, cần giáo dục, định hướng cho họ đi tham quan để mở mang hiểu biết. Vì vậy, chúng ta không nên chỉ dừng lại ở việc đào tạo - bồi dưỡng cho cán bộ của hệ thống chính trị, mà cần phải hết sức quan tâm sâu sắc đến bồi dưỡng cho già làng, trưởng bản, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số. Đặc biệt, các trường chính trị, tỉnh, huyện phải có trách nhiệm mở các lớp bồi dưỡng ngắn hạn, với chương trình đặc biệt, dễ hiểu, dễ tiếp thu, không máy móc, nặng nề, giúp đội ngũ này các tri thức cần thiết. Đội ngũ cán bộ cấp tỉnh, cấp huyện và cơ sở cần xây dựng, duy trì chế độ thường kỳ gặp gỡ, bàn bạc, trao đổi với già làng, trưởng bản, người có uy tín để nắm tình hình. Những lúc gặp gỡ phải chú ý bồi dưỡng lập trường tư tưởng, chính trị, uốn nắn những lệch lạc, chú ý bảo vệ uy tín cho người người nhiệt tình trong hoạt động nhưng bị kẻ địch tung tin thất thiệt. Kinh nghiệm cũng cho thấy, đồng bào dân tộc thiểu số vẫn sống ở trình độ kinh tế hiện vật, nên khi gặp gỡ có gói quà động viên thì sức thu hút càng cao hơn. Phải đưa được già làng, trưởng bản, người có uy tín trở thành thành viên MTTQ các cấp, không câu nệ số lượng thành viên. Trong tình hình hiện nay cần chú ý cả những người có uy tín trong sản xuất kinh doanh để cổ vũ, động viên đồng bào các dân tộc noi gương. Những người có uy tín đủ tiêu chuẩn nên giới thiệu bố trí làm trưởng bản-làng, chú ý bồi dưỡng họ trở thành đảng viên. Trong quá trình thực hiện các dự án cần có đại diện của già làng, trưởng bản trong HĐND. Những già làng, trưởng bản, người có uy tín nhiệt tình, tham gia tích cực hoạt động của Mặt trận thì cần xem họ như cán bộ bán chuyên trách, có chế độ thích đáng để động viên, khen thưởng. Phải chú ý những người có uy tín trong các gia đình gắn bó với cách mạng, có truyền thống lâu đời.

2. Về kết hợp luật tục với luật pháp trong điều hành quản lý làng-bản ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Đã có một thời chúng ta nhận thức không đúng về vai trò của luật tục, nên cấm đoán, xoá bỏ. Lúc đó mặt tích cực của nó chẳng những không được phát huy đầy đủ, mà mặt tiêu cực lại bùng phát. Đến thời điểm hiện nay, tuy cơ sở xã hội các tộc người ở miền núi đã có nhiều thay đổi, luật pháp của Nhà nước đã thâm nhập và phát huy tác dụng trong cộng đồng buôn làng, nhưng vai trò của luật tục vẫn rất mạnh trong điều chỉnh các quan hệ xã hội. Không ít dân tộc ở Tây Nguyên, trong một thời gian dài, điều chỉnh các quan hệ xã hội trong buôn làng không chỉ có luật pháp, mà cơ bản hơn lại là luật tục; không chỉ là toà án của Nhà nước, mà còn có toà án phong tục.

Chính vì vậy, chủ trương của Đảng và Nhà nước về tái lập luật tục là rất đúng đắn, song cũng phải được tính toán kỹ, tránh để tình trạng luật tục tạo ra những quy định trái với luật pháp, mà phải cùng luật pháp duy trì xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong một trật tự, kỷ cương thống nhất, thúc đẩy tiến bộ. Quy ước mới ban hành tuy đã đi theo hướng đó, song nhiều nơi hiện nay còn nặng về hình thức, mang tính chung chung, thậm chí đã luật pháp hoá luật tục, nên các nét đẹp truyền thống chưa được chú ý kế thừa đầy đủ. Tính đặc thù từng làng bản, dân tộc chưa được chú ý đúng mức trong nội dung Quy ước, ngôn ngữ mang nặng hành chính, chưa chú ý diễn đạt theo phong cách của từng dân tộc thiểu số với lối tư duy mộc mạc, dễ đi vào tâm linh. Nội dung của Quy ước cần chú ý khai thác đặc điểm của vùng đồng bào dân tộc thiểu số là điều chỉnh các quan hệ về sở hữu và quản lý, khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên; xây dựng các quan hệ sản xuất hài hoà, lành mạnh theo tinh thần phát huy tính tự quản, nhất là quan hệ gia đình, láng giềng; kế thừa và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp, xây dựng làng-bản văn hoá và làm phong phú đời sống văn hoá ở cơ sở. Cần chú ý lồng ghép các phong trào như xây dựng và thực hiện Quy ước làng văn hoá, xây dựng nếp sống lành mạnh trên địa bàn khu dân cư, xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, thực hiện dân chủ ở cơ sở, trợ giúp pháp lý với đồng bào dân tộc... Mỗi phong trào có nội dung riêng, nhưng mục tiêu chung đều nhằm vào làng - bản, nếu lồng ghép tốt sẽ tạo ra hiệu quả cao hơn. Tạo ra sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban - ngành trong chỉ đạo xây dựng Quy ước, nhất là các cơ quan Tư pháp, Văn hoá - Thông tin, Mặt trận Tổ quốc. Chú ý phát huy tốt hơn tính năng động, dân chủ của buôn làng, khắc phục các biểu hiện từ trên áp đặt xuống một chiều, cứng nhắc.

3. Về củng cố thiết chế làng - bản ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Thiết chế làng - bản có tầm quan trọng đặc biệt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đây không phải là đơn vị hành chính, mà là đơn vị dân cư có tính tự trị khá cao. Tính tự trị của nó luôn tạo ra lực cản hạn chế sự can thiệp của Nhà nước Trung ương vào đời sống riêng của đồng bào. Kể cả đến thời điểm hiện nay, việc can thiệp vào cộng đồng làng - bản vẫn là khâu yếu của chúng ta, một mặt gặp phải “sức ỳ” từ chính các thiết chế xã hội truyền thống, mặt khác do không ít cán bộ quan liêu, xa dân. Kẻ thù đã phát hiện được điểm yếu này và đang toan tính phá vỡ cấu trúc xã hội vùng dân tộc thiểu số ngay từ những tế bào của nó, làm cho các đơn vị dân cư ngày càng cắt rời với hệ thống chính trị các cấp. Vì vậy, vấn đề bức thiết là phải làm cho mọi cán bộ, đảng viên các cấp nhận thức đầy đủ vai trò, vị trí của làng-bản trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số. Nếu xây dựng làng-bản vững chắc thì nó sẽ đóng vai trò nòng cốt trong quá trình phát triển miền núi. Nếu không chăm lo xây dựng đầy đủ hoặc thậm chí để kinh tế thị trường phát triển tự phát làm phá vỡ và đảo lộn cơ cấu xã hội làng-bản thì sẽ làm mất nội lực phát triển của các dân tộc thiểu số miền núi trong tiến trình công nghiệp  hoá, hiện đại hoá.

Trước hết, phải chăm lo xây dựng làng-bản thành một cộng đồng cư trú với những điều kiện và khả năng phát triển đối với các dân tộc (Thiết chế của các dân tộc miền núi phía Bắc là mường-bản-chiềng, có thể cư trú sườn đồi ven thung lũng (Thái, Mường, Tày), canh tác ruộng nước và một phần nương rẫy (Thái, Mường, Tày...); hoặc cư trú trên cao và canh tác nương rẫy (Mông, Dao...). Số lượng lớn hay nhỏ của buôn-làng-bản tuỳ thuộc từng nơi. Cư trú dọc theo trục đường lớn là đặc điểm của buôn người Êđê, cư trú trong những ngôi nhà dài là các đại gia đình người Môn-Khmer ở Nam Tây Nguyên, cư trú theo hình thái mật tập hình vành khuyên xung quanh ngôi nhà công cộng (nhà rông) là nhiều tộc người ở Nam Trường Sơn hay Bắc Tây Nguyên). Trong cộng đồng đó phải có một không gian sinh tồn, không chỉ có đất thổ cư mà cả đất rừng, suối nước. ở đó, người dân không chỉ cư trú, canh tác, sinh hoạt văn hoá - xã hội, mà còn là điều kiện để bảo tồn, phát triển cuộc sống của mình như khai thác vật liệu làm nhà, dựng cửa, bảo vệ thuỷ lợi, chăn thả gia súc... Nếu không gian sinh tồn đó bị thu hẹp và xâm hại sẽ đe doạ trực tiếp đến sự tồn vong của các dân tộc, chắc chắn tạo ra sự phản kháng từ đồng bào các dân tộc. Vấn đề bức xúc là phải thực hiện tốt chính sách cấp đất của Chính phủ, tăng cường bảo vệ nguồn nước, rừng, môi trường sinh thái ở miền núi, bảo đảm điều kiện sinh tồn của buôn làng, nhất là ở Tây Nguyên.

Thứ hai, xây dựng làng-bản thành một cộng đồng văn hoá, thể hiện trên hàng loạt các phong tục, tập quán sinh hoạt văn hoá mang tính dân chủ, bình đẳng giữa con người với con người. Trong đó, bảo vệ truyền thống văn hoá của các dân tộc là vấn đề cấp bách, có ý nghĩa củng cố làng-bản từ những giá trị văn hoá (gồm cả văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể). Nếu để bản sắc văn hoá các dân tộc bị lu mờ, biến mất, chính nó sẽ huỷ hoại làm tan rã phần “hồn” của cộng đồng dân tộc ấy.

Thứ ba, xây dựng làng-bản thành một cộng đồng tâm linh lành mạnh, thể hiện trên các phương diện tín ngưỡng, tôn giáo... Đây là những yếu tố vô hình nhưng bền chặt, quy tụ con người hướng về các biểu tượng linh thiêng. Các hoạt động nghi lễ của cộng đồng làng-bản chủ yếu thể hiện quan hệ cụ thể giữa con người với thiên nhiên qua những đối tượng cụ thể là đất, nước, rừng, bếp lửa... vô hại đối với nền chính trị đương đại. Nếu không nhận thức đầy đủ những tín ngưỡng tâm linh đó, cho nó là lạc hậu, phải xoá bỏ, thì để lại “khoảng trống” trong đời sống tâm linh các đồng bào dân tộc, các loại tà đạo, tôn giáo độc hại sẽ có điều kiện xâm nhập vào buôn-làng. Do đó, chúng ta không chỉ tôn trọng, mà còn tạo điều kiện cho sự phát triển của những loại tín ngưỡng “lành”, vô hại, nhưng là một nhu cầu tất yếu của đồng bào các dân tộc. Chính nó sẽ tạo ra khả năng đề kháng với sự xâm nhập của các loại tôn giáo độc hại, tạo ra môi trường tâm linh, tinh thần lành mạnh trong buôn-làng ở vùng dân tộc thiểu số, góp phần giữ vững xã hội trong ổn định, trật tự.

Khai thác các thiết chế truyền thống ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số chính là sự quán triệt quan điểm mác xít về giải quyết mối quan hệ giữa cái phổ biến và cái đặc thù, giữa cái truyền thống và cái hiện đại. Dĩ nhiên, trong khi khai thác các yếu tố đặc thù phải trở lại với quan điểm toàn diện, tránh cường điệu quá mức cái riêng, cái đặc thù, tạo ra sự đối lập với cái chung, cái phổ biến. Đồng thời, khai thác, phát huy các yếu tố truyền thống phải luôn được đặt trong quan điểm phát triển. Nếu chỉ chú ý mặt truyền thống mà không quan tâm đầy đủ mặt hiện đại hoá thì sẽ làm mất đi sức sống của nó, tạo ra sức ỳ, lực cản đối với sự phát triển.  

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,899,503


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs