Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 04/04/2005
Tổ chức lại các nông lâm trường quốc doanh gắn với phát triển vùng dân tộc miền núi

TS. Hồ Xuân Hùng

Phó Trưởng Ban Đổi mới và Phát triển Doanh nghiệp

 

Bộ Chính trị đã có Nghị quyết số 28/NQ-TW ngày 16/6/2003 về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh. Chính phủ cũng đã có Quyết định 179/QĐ-TTG ngày 3/9/2003 về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết  28.

Mục tiêu và quan điểm lớn, xuyên suốt khi tổ chức thực hiện là nhằm góp phần thực hiện tốt các chủ trương đã đề ra trong nghị quyết đại hội IX của Đảng và nghị quyết Trung ương 5 khoá IX về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn; sử dụng ngày một hiệu quả hơn, bền vững tài nguyên đất đai, rừng và các thành quả trong quá trình xây dựng nhiều năm qua v.v...

Hệ thống nông lâm trường nước ta sau hơn 16 năm đổi mới và qua nhiều lần tổ chức lại hiện vẫn còn 682 nông, lâm trường; trong đó: 314 nông trường và 368 lâm trường. Sau khi đã trả lại cho chính quyền địa phương quản lý 1.411.000 ha đất, vẫn còn quản lý tới hơn 6 triệu ha (đất tự nhiên, đất rừng và đất nông nghiệp). Đặc biệt là quản lý hơn 5 triệu ha rừng. Hầu hết các nông, lâm trường nước ta đóng trên địa bàn miền núi và dân tộc. Nhiều nông, lâm trường đóng ở vùng sâu, vùng biên giới xa xôi, hẻo lánh. Hơn 45 năm qua (kể từ 1955) các nông, lâm trường đã có nhiều đóng góp to lớn trong quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đặc biệt là nhiệm vụ khai khẩn đất đai, mở rộng diện tích canh tác, tạo ra những vùng sản xuất hàng hoá tập trung, thu hút và góp phần phân bố lại lực lượng lao động giữa miền núi và đồng bằng, giữa các miền của cả nước, cải tạo bộ mặt nông thôn miền núi, vùng đồng bào dân tộc miền núi; hình thành mới nhiều trung tâm kinh tế - văn hoá - chính trị ở miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, góp phần quan trọng làm ổn định quốc phòng và an ninh, phát triển nhanh kinh tế trên toàn tuyến biên giới.

Nhiều nông, lâm trường đã đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi và trồng trọt tạo động lực phát triển nông nghiệp, nông thôn miền núi, góp phần đáng kể cho phát triển kinh tế đồi rừng, vốn rừng và làm nòng cốt cho bảo vệ các tuyến rừng xung yếu. Các nông, lâm trường có nhiều đóng góp trong quá trình xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ở vùng miền núi. Là cầu nối, địa bàn trực tiếp để thực hiện các chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, giảm bớt khoảng cách về kinh tế, văn hoá giữa miền núi và miền xuôi, tiêu biểu nhất là các nông, lâm trường thuộc các Tổng công ty 15, Tổng công ty cao su VN, Tổng công ty chè, cà phê, các lâm trường ở các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị...

Tuy nhiên trước yêu cầu về công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn; trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, nông, lâm trường quốc doanh còn bộc lộ quá nhiều yếu kém đã được Bộ Chính trị chỉ rõ, đặc biệt là “hiệu quả sử dụng đất đai còn thấp, diện tích chưa sử dụng còn nhiều, quản lý đất đai, tài nguyên rừng còn nhiều yếu kém; tình trạng lấn chiếm, tranh chấp đất đai giữa hộ dân với nông trường xảy ra nhiều nơi...”. Có thể nói còn tới gần 16% quỹ đất do nông, lâm trường quản lý chưa được sử dụng. Diện tích đất sử dụng của các nông trường mới đạt mức thu khoán 10 triệu đồng/ha/năm, trong khi đó bình quân của dân cư trong vùng là 17 triệu đồng/ha/năm; nhiều nông, lâm trường thua lỗ triền miên, sự đổ vỡ của các nông, lâm trường này đã kéo theo sự đổ vỡ về kinh tế của không biết bao gia đình trong vùng, kéo theo sự thay đổi bố trí lại quy hoạch sản xuất kinh doanh của cả một vùng dân cư mà nhiều năm họ mới gây dựng được là những tồn tại rất lớn cần gấp rút tổ chức lại một cách nghiêm túc.

Ngày 17 tháng 11 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã triển khai chương trình thực hiện Nghị quyết 28 của Bộ Chính trị trong toàn quốc. Vấn đề đặt ra là tìm giải pháp tối ưu để khi sắp xếp lại các nông, lâm trường gắn được với việc thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hoá xã hội, củng cố an ninh quốc phòng vùng miền núi dân tộc theo chúng tôi cần tập trung vào một số việc lớn, đó là:

Tiến hành rà soát lại, xác định lại chức năng, nhiệm vụ của các nông, lâm trường theo đúng tiêu chí đã được quy định tại Quyết định số 179/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Trên cơ sở đó rà soát và xây dựng lại quy hoạch, kế hoạch để xác định đúng nhu cầu và khả năng sử dụng, quản lý quỹ đất, rừng, lao động và tài sản. Quá trình này nhất thiết phải gắn chặt với quy hoạch, kế hoạch của địa phương, phù hợp với quy hoạch tổng thể của ngành kinh tế quốc gia. Có vậy mới đảm bảo phát huy tối đa hiệu quả sử dụng quỹ đất, vốn rừng hiện có, tạo điều kiện phát triển sản xuất hàng hoá lớn, nông, lâm trường mới trở thành hạt nhân thu hút lao động, sản phẩm hàng hoá của nhân dân trong vùng. Tổ chức sắp xếp lại các nông, lâm trường quốc doanh cũng cần được quán triệt như sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước đã được xác định trong nghị quyết TW 3 khoá IX.

Các lâm trường chủ yếu đóng ở vùng dân tộc thiểu số, vùng biên giới. Lâu nay, hầu hết các lâm trường không vì mục đích kinh doanh mà làm nhiệm vụ chủ yếu là giữ, bảo vệ và làm giàu vốn rừng nhất là rừng đầu nguồn, đặc dụng. Nay loại hình này, theo Nghị quyết 28 của Bộ Chính trị đều được chuyển sang ban quản lý rừng hoạt động theo đơn vị sự nghiệp hoặc sự nghiệp có thu. Các lâm trường (Ban quản lý rừng) cần soát xét lại các quỹ đất rừng, lao động, cân đối được nhu cầu và khả năng (nhất là khả năng quản lý) để giải quyết các vấn đề đất rừng, tài sản và lao động theo quy định của Chính phủ. Điều quan trọng là quá trình này cần tính toán để sử dụng lợi thế của các hộ dân trong vùng vì thực tế họ am hiểu địa bàn, có khả năng lao động kiểm soát được rừng. Mặt khác, đã bao đời nay họ đã gắn bó với rừng, đời sống vốn phụ thuộc vào rừng vì vậy cần phải tính hết khả năng thu hút, sử dụng họ vào vùng dự án, vào vệ tinh và trở thành thành viên cho ban quản lý rừng, để vừa đem lại hiệu quả giữ và phát triển vốn rừng, vừa góp phần trực tiếp vào giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo.

Loại lâm trường có nhiệm vụ chủ yếu là sản xuất kinh doanh, trồng rừng nguyên liệu, khi xây dựng phương án chuyển sang kinh doanh phải gắn với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, tạo ra những trung tâm chế biến để trở thành hạt nhân nòng cốt trong ứng dụng và chuyển giao công nghệ, dìu dắt hướng dẫn các hộ gia đình kinh tế trang trại cùng phát triển. Quá trình phát triển sản xuất kinh doanh phải tạo được mối quan hệ hữu cơ về kinh tế giữa lâm trường với các chủ trang trại, chủ hộ gia đình, thúc đẩy phát triển kinh tế vùng, kinh tế nông nghiệp nông thôn miền núi.

Với nông trường tuy có nhiều thiếu sót, nhất là từ những năm chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế của nhà nước, nhưng nhìn chung trong những năm qua, các nông trường đã có nhiều đóng góp và nhiều kinh nghiệm trong việc mở mang, phát triển kinh tế, văn hoá vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trung du và miền núi. Vì vậy, trong quá trình sắp xếp tổ chức lại các nông trường để chuyển sang kinh doanh một mặt cần chủ động đổi mới cơ chế kinh doanh, mở rộng cơ chế khoán, thu nhập gắn với kết quả sản xuất, đối với vườn cây cần áp dụng một cơ chế khoán tạo sự ổn định lâu dài, đồng thời tính toán kỹ phương án đầu tư, sử dụng hiệu quả cơ sở chế biến để tạo hạt nhân, định hướng cho kế hoạch sản xuất hàng hoá của dân. Mặt khác, Chính phủ cần có chính sách cụ thể hơn để các nông trường có điều kiện trong thời gian nhất định thu hút, nâng cao trình độ nguồn nhân lực tại chỗ và có thể đưa được công nghệ, kỹ thuật mới vào vùng dân tộc, miền núi. Theo chúng tôi, cũng cần ưu tiên và lồng ghép các chương trình đầu tư cho vùng này, có thể thông qua các nông trường những chương trình kinh tế trọng điểm liên quan hoặc kéo được nông trường tham gia vào chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội (kể cả những chương trình định canh, định cư, ổn canh, ổn cư).

Qua khảo sát nhiều nông trường, dù sau khi Chính phủ tập trung xử lý các vấn đề tài chính, đất đai, tài sản thì hầu hết cũng đang khó khăn, nhất là trước yêu cầu cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế và sức ép của thị trường, nếu Chính phủ không có những chính sách hợp lý tiếp theo thì nông trường vẫn chưa đủ mạnh, hơn nữa nhiều chính sách phát triển kinh tế, xã hội được nông trường làm nòng cốt trong thực hiện vẫn hiệu quả hơn. Vấn đề là thay cho “bao cấp” trước đây là những chính sách hỗ trợ và những đơn đặt hàng qua nông trường. Ví như việc đào tạo cán bộ nông nghiệp và nâng cao trình độ canh tác cho nông dân thực hiện qua nông trường là tốt nhất.

Trong trường hợp phải thành lập mới những nông trường ở vùng sâu, vùng xa (chủ yếu là vùng dân tộc biên giới) nếu không phải là những nông trường làm kinh tế - quốc phòng, thì đối tượng ưu tiên thu hút vào nông trường trước hết là dân định canh, định cư và người dân tại chỗ. Định hướng phát triển và quy mô phải phục vụ cho sự phát triển dân trí, trình độ canh tác và phát triển kinh tế - xã hội.

Việc bàn giao những tài sản, dịch vụ công như trường học, bệnh xá, cầu cống, đường sá, đây là việc làm rất cần thiết, nhằm mục tiêu giảm (tách) chức năng xã hội của các nông trường về cho chính quyền địa phương. Vừa qua thực tế là các cơ sở này không chỉ phục vụ cho nông trường viên mà đã đáp ứng cho cả nhu cầu của nông dân trong vùng. Nhưng hiện nay không phải nơi nào chính quyền xã cũng đủ điều kiện (nhất là trình độ năng lực) để quản lý các cơ sở này. Vì vậy để chống xuống cấp (cả về cơ sở vật chất và đội ngũ lao động quản lý) và phải góp phần nâng cao chất lượng các công trình trường học, bệnh xá, cầu cống, đường và các công trình thuỷ lợi, cần tính toán kỹ khả năng tiếp nhận của chính quyền địa phương đến đâu thì bàn giao đến đó. Nơi nào chưa đủ điều kiện các nông, lâm trường tiếp tục quản lý, sử dụng nhưng phải tổ chức hạch toán riêng để Nhà nước cấp kinh phí như những cơ sở giao cho địa phương, tránh tình trạng bỏ trống, buông trôi, bàn giao cho xong, làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc học hành, chữa bệnh, đi lại không chỉ của nhân dân trong vùng mà ngay cả với nông, lâm trường.

Phải sử dụng hiệu quả quỹ đất rừng chỉ để lại cho nông trường, lâm trường quỹ đất rừng phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quy mô theo đúng tinh thần Nghị quyết 28. Số dôi dư được giao lại cho chính quyền địa phương để giao cho hộ dân sản xuất kinh doanh để tránh tranh chấp về sau và đảm bảo tính hợp lý trong chuyển giao quỹ đất, cần phân biệt rõ thành các vùng riêng biệt, không nên bàn giao xen kẽ, hoặc chỉ bàn giao vùng đất xấu, sau đó phải thực hiện việc cắm mốc giới rõ ràng. Trong trường hợp địa phương chưa có điều kiện nhận lại vùng đất dôi dư của nông, lâm trường do dân sở tại chưa có khả năng nhận, cần thống nhất ngay với chính quyền cấp huyện để nông, lâm trường tiếp tục quản lý và thực hiện mở rộng giao khoán cho nông, lâm trường viên ổn định một thời gian theo chu kỳ cây trồng vật nuôi, và ưu tiên một số lao động dôi dư khi sắp xếp lại nông, lâm trường, những hộ có khả năng phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại hiệu quả (không phân biệt hộ đó có ở trên địa bàn xã đó hay không).

Vấn đề thị trấn nông, lâm trường, tuy nội dung này không được đặt ra trong Nghị quyết 28 Bộ Chính trị, song theo chúng tôi, trong khi tổ chức lại các nông, lâm trường cũng cần đặt vấn đề giải quyết rõ về mặt tổ chức, tính pháp lý của thị trấn nông, lâm trường.

Thị trấn nông, lâm trường được thành lập trong những năm 60,70 thực hiện nhiệm vụ chính là để quản lý hộ tịch, hộ khẩu của các hộ gia đình nông, lâm trường và đáp ứng các yêu cầu đảm bảo an ninh trật tự văn hoá nội bộ nông, lâm trường, không phải là một cấp hành chính. Trong quá trình phát triển nảy sinh nhiều mâu thuẫn giữa bộ máy quản lý nông, lâm trường với thị trấn nông, lâm trường, chính quyền địa phương sở tại. Đặc biệt là hiện nay đang thực hiện rà soát để bàn giao các cơ sở phúc lợi công cộng, sự nghiệp cho chính quyền địa phương chắc chắn còn phát sinh thêm những vấn đề phức tạp khác, vì vậy cần được đặt ra để giải quyết. Theo chúng tôi và qua kinh nghiệm thực tiễn giải quyết các thị trấn nông, lâm trường ở Nghệ An năm 1995 cho thấy: nơi nào có thể xác định được đủ điều kiện thành đơn vị hành chính cấp thị trấn xã thì Chính phủ cần chuẩn y, nơi nào không đủ điều kiện thì xem xét để giải tán bộ máy quản lý, chuyển về chính quyền sở tại. Làm được việc này là xác định rõ tính pháp lý của thị trấn nông, lâm trường, tổ chức lại đơn vị hành chính, tạo điều kiện để cấp chính quyền cơ sở kết hợp với ban lãnh đạo nông, lâm trường quản lý tốt hơn; sử dụng hiệu quả hơn nguồn tài nguyên và nhân lực, giải quyết cơ bản các mâu thuẫn giữa cấp chính quyền sở tại và dân trong vùng với nông, lâm trường.

Tổ chức thực hiện Nghị quyết 28 Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh ở vùng dân tộc miền núi cần đặc biệt lưu ý đến mục đích tạo động lực phát triển nguồn nhân tài vật lực, kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh quốc phòng ở vùng miền núi dân tộc. Thời gian còn lại không nhiều, các bộ, ngành các tổng công ty có nông, lâm trường cần phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương và tập trung cao sự chỉ đạo mới có thể hoàn thành được.  

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,899,607


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs