Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 05/05/2005
Một số vấn đề xây dựng đời sống văn hoá vùng đồng bào dân tộc Khmer ở miền Tây Nam Bộ


Rước đèn trong lễ hội của người Khmer.

PGS. TS Phạm Duy Đức

Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

 

Người Khmer sống rải rác ở hầu khắp các tỉnh Tây Nam Bộ nhưng tập trung đông nhất ở 3 tỉnh: Trà Vinh, Sóc Trăng và Tiền Giang. Trải qua hơn 3 thế kỷ, đồng bào dân tộc Khmer đã cùng đồng bào Kinh, Hoa, Chăm khai khẩn vùng đất mới và tạo nên sự giao lưu tiếp biến văn hoá với các dân tộc khác, đồng thời vẫn luôn luôn bảo lưu những giá trị văn hoá riêng của dân tộc mình.

Nơi cư trú của đồng bào Khmer  miền Tây Nam Bộ thường sống tập trung ở những giồng đất, dải đất cao. Họ xây dựng cộng đồng thành những Phun, Sóc, trong đó các hộ gia đình thường sống gần kề nhau. Về tổ chức xã hội, trước đây các Phun, Sóc chủ yếu hoạt động tự quản với một ban điều hành gồm những người có hiểu biết, có kinh nghiệm, uy tín. Ban tự quản Phun, Sóc kết hợp với sư sãi trong các chùa để bảo tồn và phát triển cộng đồng, ổn định trật tự xã hội, hình thành một thiết chế xã hội truyền thống mà tôn giáo có vị trí đặc biệt. Về gia đình, hiện nay người Khmer Tây Nam Bộ không duy trì chế độ mẫu hệ nhưng chế độ mẫu hệ còn để lại nhiều ảnh hưởng rõ nét. Về trình độ dân trí và kinh nghiệm sản xuất, nhìn chung so với cộng đồng dân cư khác như người Kinh, người Hoa thì trình độ dân trí người Khmer thấp hơn. Kinh nghiệm sản xuất cũng lạc hậu, mạng đậm dấu ấn sản xuất theo kiểu tự nhiên. Về sinh hoạt tinh thần, người Khmer sống thuần phác nhân hậu, cần cù, ưa ổn định, giữ được nhiều lễ tục, lễ hội liên quan đến sản xuất nông nghiệp. Đặc biệt, tuyệt đại bộ phận người dân Khmer theo Phật giáo Tiểu thừa nên nhà chùa chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân. Hiện nay, tuyệt đại bộ phận người Khmer vẫn đi theo Phật giáo lấy chùa là nơi thoả mãn nhu cầu tinh thần. Việc con trai đến tuổi trưởng thành phải vào tu ở chùa trong một thời gian nhất định đã trở thành định chế có tính truyền thống.

Nghệ thuật kiến trúc độc đáo của người Khmer thể hiện tập trung ở các ngôi chùa. Trong nghệ thuật kiến trúc chùa, rồng là con vật trung tâm biểu tượng cho cái thiện, được trang bị trên mái chùa và cột cái trong Phật điện. Ngoài ra hình tượng con rắn cũng được dùng để trang trí trên mái chùa.

Đồng bào Khmer đã bảo lưu và giữ gìn được nhiều sinh hoạt văn hoá dân gian như múa, hát và nghệ thuật sân khấu như sân khấu Rô Băm, kịch hát Dù Kê, đua thuyền.vv... tạo nên bản sắc văn hoá riêng của mình. Trong công cuộc đổi mới vừa qua, nhờ đường lối và chính sách dân tộc đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, đời sống của đồng bào Khmer đã có bước tiến rõ rệt. Tỷ lệ hộ nghèo trên 59% sau năm 1975 đến nay đã giảm còn khoảng 20%. Tình trạng thiếu đói của đồng bào căn bản đã chấm dứt. Hàng loạt các chương trình kinh tế- xã hội như 133, 135... của Chính phủ đã làm thay đổi kết cấu hạ tầng kỹ thuật, văn hoá của khu vực đồng bào dân tộc Khmer. Hầu hết các xã đã có điện lưới; hơn 90% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã; hệ thống y tế cơ sở đã có mặt ở tất cả các xã; hệ thống trường học được mở rộng. 68% đồng bào Khmer biết đọc, biết viết tiếng phổ thông. Bản sắc văn hoá dân tộc được trân trọng, giữ gìn và phát huy. Đài phát thanh và truyền hình bằng tiếng Khmer được phủ sóng hầu hết các vùng dân cư Khmer. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư đã có tác động tích cực đối với việc củng cố cộng đồng, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau cùng tiến bộ. Mô hình chùa văn hoá được chú trọng xây dựng ở nhiều nơi, góp phần nâng cao dân trí, dạy và học tiếng Khmer, bảo tồn văn hoá dân tộc, khuyến khích ý tưởng công bằng, bác ái. Những hiện tượng tiêu cực xã hội, suy thái lối sống, đạo đức xã hội trong đồng bào Khmer ít hơn ở các vùng khác. Truyền thống yêu nước và đoàn kết các dân tộc, đoàn kết tôn giáo được giữ gìn và củng cố trong điều kiện mới đã làm thất bại âm mưu chia rẽ của các thế lực thù địch trong nước và quốc tế.

Bên cạnh những thành tựu về xây dựng đời sống văn hoá trong những năm đổi mới vừa qua, chúng ta cũng thấy nổi lên một số vấn đề cần giải quyết. Đó là: Hiệu quả đầu tư phát triển kinh tế- xã hội còn thấp và dàn trải. Người dân thiếu thốn và thiếu phương tiện sản xuất. Tỷ lệ hộ nghèo còn cao. ở Trà Vinh còn 22,56% hộ nghèo. Sóc Trăng còn 28,50%, Kiên Giang còn 27,9%... Đặc biệt tính chung toàn vùng số hộ nông dân không ruộng sản xuất chiếm 17%.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ bảy khoá IX của Đảng “Về công tác dân tộc” vừa qua đã chỉ rõ: “ở nhiều vùng dân tộc và miền núi, tỷ lệ đói nghèo hiện nay còn cao hơn so với bình quân chung của cả nước; khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa các dân tộc ngày càng tăng; chất lượng hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp; việc đào tạo nghề chưa được quan tâm, công tác chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. Một số tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan có xu hướng phát triển. Một số bản sắc tốt đẹp trong văn hoá của các dân tộc thiểu số đang bị mai một. Mức hưởng thụ văn hoá của đồng bào còn thấp”.

Khoảng cách về đời sống giữa người Khmer với người Hoa, người Kinh gia tăng. Một bộ phận đồng bào Khmer còn nhận thức mơ hồ, không đầy đủ và chính xác về lịch sử hình thành dân tộc mình, về vị trí của dân tộc mình trong cộng đồng quốc gia Việt Nam, bị kẻ xấu lợi dụng, mua chuộc, gây mất đoàn kết với các dân tộc anh em hoặc thậm chí đi theo bọn phản động chống lại Tổ quốc. Một bộ phận đồng bào Khmer bị lôi kéo tách ra khỏi tôn giáo truyền thống để theo đạo Tin lành và Công giáo, tạo nên sự phân tán về tâm linh trong cộng đồng Khmer. Hoạt động của kẻ thù vừa trắng trợn, vừa tinh vi, có tổ chức chặt chẽ luôn tìm mọi cách để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định chính trị xã hội. Đặc biệt là tổ chức phản động tập hợp xung quanh cái gọi là “Hội liên hiệp Khmer Krôm”, trong tổ chức này có nhiều tên phản động quê ở đồng bằng sông Cửu Long cầm đầu và tham gia cầm đầu. Chúng lợi dụng những khó khăn về kinh tế, lợi dụng tôn giáo để chia rẽ, để tranh thủ và lôi kéo đồng bào. Đồng thời chúng dùng đài phát thành từ nước ngoài liên tục vu cáo, xuyên tạc chính sách dân tộc và tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta. Đặc biệt là chúng tập trung vào chủ đề xuyên tạc lịch sử vùng đất Tây Nam Bộ nhằm kích động tư tưởng ly khai. Đại bộ phận đồng bào Khmer sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng đất phèn, mặn, xa trục lộ giao thông, lũ lụt xảy ra thường xuyên, mặt bằng dân trí còn thấp, khả năng thích ứng của cơ chế thị trường và tiếp thu khoa học công nghệ chậm; Phong tục tập quán còn nhiều yếu tố lạc hậu. Lễ hội nhiều, cản trở thời gian sản xuất. Tâm lý xã hội hướng về “an bầu, lạc đạo”, yên phận với nghèo nàn, lạc hậu, ít chú ý đến cạnh tranh để phát triển.

Để góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc xây dựng đời sống văn hoá vùng đồng bào dân tộc Khmer miền Tây Nam Bộ hiện nay, giải pháp cơ bản là:

1. Đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đặc biệt là giáo dục tinh thần dân tộc đúng đắn, giáo dục chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đại đoàn kết dân tộc và truyền thống cách mạng. Các cơ quan văn hoá giáo dục cần biên soạn lịch sử khai phá đồng bằng sông Cửu Long và lịch sử hình thành cộng đồng cư dân ở đây, trong đó có lịch sử hình thành dân tộc Khmer. Các tài liệu đó tập trung vào chủ đề và mục tiêu giáo dục lòng tự hào dân tộc chân chính của đồng bào Khmer đồng bằng sông Cửu Long gắn với lòng tự hào về Tổ quốc Việt Nam thống nhất mà họ là một bộ phận máu thịt đã góp phần tạo dựng nên. Kiên quyết xử lý và ngăn chặn việc phát tán các tài liệu xấu, gây nhiễu loạn đời sống tinh thần của nhân dân.

2. Việc xây dựng Bảo tàng văn hoá dân tộc Khmer ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long cần được bổ sung những hiện vật mới sắp xếp theo trình tự hợp lý, thể hiện tiến trình phát triển khách quan của vùng đất miền Tây Nam Bộ. Phát huy vai trò các phương tiện thông tin đại chúng như báo, tạp chí, phát thanh và truyền hình địa phương trong việc chống lại luận điệu xuyên tạc, nói xấu nhằm chia rẽ khối đoàn kết toàn dân tộc của kẻ thù.

3. Đầu tư nâng cao chất lượng và hiệu quả của hệ thống giáo dục từ mầm non đến các trường phổ thông, các trường dân tộc nội trú ở khu vực đồng bào Khmer sinh sống. Tăng cường đào tạo đội ngũ giáo viên, nhất là giáo viên người dân tộc Khmer, tạo điều kiện để họ trở về công tác ở cơ sở. Đẩy mạnh phong trào xoá mù chữ (Hiện nay chỉ có 68,2% người Khmer biết đọc, biết viết. Còn lại 31,8% mù chữ). Đưa việc dạy tiếng Khmer vào hệ thống trường học. Đồng thời tăng cường dạy tiếng phổ thông cho đồng bào Khmer (Hiện nay ở một số xã thuộc các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang còn chưa nói, viết được tiếng phổ thông).

4. Tổ chức tốt mô hình nhà chùa là tụ điểm văn hoá, trung tâm sinh hoạt của đồng bào Khmer. Việc đưa các hoạt động văn hoá vào trong nhà chùa vừa phải đảm bảo định hướng tư tưởng chính trị vừa chú ý tôn trọng tự do tín ngưỡng và thực hiện chính sách tôn giáo, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Khắc phục tình trạng mê tín, dị đoan, khôi phục các hủ tục lạc hậu trong sinh hoạt tôn giáo.

5. Đẩy mạnh phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư. Hỗ trợ, giúp đỡ đồng bào Khmer gặp khó khăn về kinh tế. Tăng cường phổ biến kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo, đưa tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất. Giúp đồng bào tiếp cận với thị trường, chuyển đổi cơ cấu sản xuất cho phù hợp với đòi hỏi của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế. Khai thác các giá trị văn hoá đạo đức tốt đẹp của Phật giáo Tiểu thừa để phục vụ cho việc xây dựng đời sống văn hoá cộng đồng. Sưu tầm, bảo vệ và phát huy các giá trị văn hoá vật thể tốt đẹp của đồng bào. Xây dựng quy hoạch, quy chế hoạt động lễ hội nhằm khuyến khích những lễ hội có ý nghĩa văn hoá và lịch sử, giảm sự rườm rà, tốn kém trong cộng đồng dân cư.

6. Việc xây dựng đời sống văn hoá ở khu vực đồng bào Khmer phải gắn liền với công tác củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, góp phần “xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, phát huy sức mạnh tại chỗ để sẵn sàng đập tan mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch; tăng cường công tác đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, không để xảy ra những “điểm nóng” về an ninh, trật tự xã hội...” như Hội nghị Trung ương lần thứ 7 khoá IX của Đảng để ra.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược, đồng bào dân tộc Khmer đã anh dũng đứng lên sát cánh cùng các dân tộc anh em chiến đấu giải phóng quê hương đất nước. Ngày nay, truyền thống yêu nước và tinh thần đoàn kết phải trở thành điểm tựa, trở thành nền tảng tinh thần để đồng bào Khmer miền Tây Nam Bộ cùng các dân tộc khác phấn đấu xây dựng quê hương đất nước vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.  

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,917,708


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.3 secs