Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 10/11/2008
Kết quả thực hiện các chính sách dân tộc ở vùng núi miền Tây Nghệ An
Miền núi tỉnh Nghệ An gồm 16 huyện miền núi với 248 xã, thị trấn/476 xã phường, thị trấn toàn tỉnh (trong đó 89 xã đặc biệt khó khăn, 27 xã có tiếp giáp với nước bạn Lào kéo dài 419 km đường biên), diện tích tự nhiên (10 huyện miền núi) là 13.745,03 km2, chiếm 83% diện tích toàn tỉnh, mật độ dân số bình quân thấp 40 người/km2.

Dân số miền núi có 1.298.794 người, chiếm 42% dân số cả tỉnh. Trong đó đồng bào các dân tộc thiểu số có 415.863 người, chiếm 13% dân số toàn tỉnh và chiếm 32% dân số trên địa bàn miền núi; gồm 5 tộc người dân số đông là: Thái 284.119 người, chiếm 68%; Thổ 59.316 người, chiếm 14%; Khơ mú 29.764 người, chiếm 7,2%; Mông 28.779 người, chiếm 7%; Ơđu 571 người, chiếm 0,14%. Ngoài ra còn có một số người thuộc các dân tộc thiểu số khác, như: Tày, Nùng, Dao cùng sinh sống trên địa bàn miền núi. Có 2 cửa khẩu, trong đó 01 cửa khẩu Quốc tế Nậm Cắn (huyện Kỳ Sơn) và 01 cửa khẩu Quốc gia Thanh Thuỷ (huyện Thanh Chương).

Miền núi tỉnh Nghệ An có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hoá, nhất là công tác bảo vệ quốc phòng-an ninh; là vùng có tiềm năng lớn về tài nguyên đất đai để trồng cây công nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi đại gia súc, phát triển thuỷ đi.ện, khoáng sản, phát triển thương mại, du lịch. Tuy nhiên, địa hình hiểm trở, hạ tầng còn yếu kém, dân trí và nguồn lao động có chất lượng thấp đang gây ra nhiều khó khăn cho sự phát triển của miền núi Nghệ An.

Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết số 37/NQ-TW và Chính phủ đã có Quyết định số 147/QĐ-TTg về phê duyệt đề án phát triển kinh tế-xã hội miền Tây tỉnh Nghệ An đến năm 2010, với mục tiêu: “Đưa Miền tây Nghệ An thoát khỏi tình trạng kém phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc được nâng cao, đặc biệt là đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng biên giới, đẩy lùi các tệ nạn xã hội, bảo vệ tốt quốc phòng an ninh biên giới và môi trường sinh thái bền vững”.

Trong những năm qua, tỉnh Nghệ An đã tổ chức quán triệt và triển khai Nghị quyết số 37/NQ-TW và Quyết định số 147/QĐ-TTg đến tận cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thành lập Ban chỉ đạo, phân công nhiệm vụ cho các ngành, các cấp. Tỉnh uỷ đã ban hành Nghị quyết số 06/NQ-TU ngày 16/10/2006 thông qua Kế hoạch số 309/KH-UBND của UBND tỉnh về triển khai thực hiện Quyết định số 147/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ với 20 đề án, 60 dự án cụ thể hoá các mục tiêu, chỉ tiêu trên từng lĩnh vực. Đến nay các đề án đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt và triển khai có hiệu quả. Do vậy kinh tế-xã hội miền Tây có bước phát triển khá toàn diện, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện, bộ mặt nông nghiệp, nông thôn có nhiều chuyển biến tích cực. Nhịp độ phát triển kinh tế tăng bình quân giai đoạn 2005-2007 đạt: 13,12%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, giảm tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản từ 46,35% năm 2005 xuống 42,32% năm 2007, tăng tỷ trọng công nghiệp-xây dựng từ 27,67% năm 2005 lên 29,29% năm 2007, tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ từ 25,98% năm 2005 lên 28,39% năm 2007. GDP bình quân đầu người đạt 5,7 triệu đồng/người năm, dự kiến năm 2010 đạt 8/MT 8,5 triệu đồng.

Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp các huyện miền Tây có bước phát triển khá đảm bảo an ninh lương thực, bình quân đầu người 384 kg/người/năm. Đã hình thành các vùng sản xuất cây công nghiệp tập trung gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm như mía 27.000ha, chè 5.993 ha, cà phê 2.353 ha, cao su 4693 ha, cam 3.075 ha. Chăn nuôi tiếp tục phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá đặc biệt là chăn nuôi đại gia súc, kinh tế trang trại phát triển kể cả trong vùng đồng bào dân tộc Mông, Khơ Mú, Thái. Tổng đàn bò đạt 264.540 con, đàn trâu: 221.590 con. Năng suất, sản lượng cây trồng vật nuôi tăng khá, cơ cấu cây trồng, mùa vụ chuyển dịch tích cực. Công nghiệp, dịch vụ và thương mạt được củng cố và phát triển. Nhiều sản phẩm công nghiệp chế biến, khai thác khoáng sản đạt khá cao; Sản lượng đường kính đạt 13.000 tấn, chè búp khô: 6.000 tấn, tinh bột. sắn: 10.000 tấn, thiếc tinh luyện: 1.250 tấn, Xi măng 120.000 tấn, đá trắng xuất khẩu 300.000 tấn, gạch nung: 70 triệu viên. Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội được tăng cường một bước và đã phát huy hiệu quả, nhất là giao thông, thuỷ lợi, điện và nước sinh hoạt. Đã triển khai đồng loạt các dự án giao thông: Nâng cấp các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ, giao thông vùng nguyên liệu, xây dựng các tuyến đường kinh tế kết hợp với quốc phòng, các tuyến giao thông biên giới và đường vào các xã chưa có đường ô tô vào trung tâm. Khối lượng thực hiện đến nay đã đạt: 5.975 tỷ đồng, trong đó nguồn TPCP: 1.840 tỷ đồng. Về thuỷ lợi: Đã triển khai một số công trình lớn như: Hồ đầu mối và hệ thống kênh mương sông Sào. Hồ Khe Đá, Khe Là, cụm hồ đập Thanh Chương, Anh Sơn nâng cấp các trạm bơm, hồ đập nhỏ và kiên cố hoá được 1.313 km kênh cấp III. Khối lượng thực hiện đạt 577 tỷ đồng (chưa tính thuỷ lợi Bản Mồng). Đã triển khai xây dựng 09 dự án thuỷ điện với công suất 724,5MW, tổng mức đầu tư: 14.147 tỷ đồng, 01 công trình đã được cấp phép, 12 công trình đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh cho phép khảo sát. Dự kiến đến năm 2010, sẽ có 14 dự án phát điện với tổng công suất 450-500MW. Về phát triển khu công nghiệp nhỏ: Đã có 04 huyện có khu công nghiệp nhỏ: Anh Sơn, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ với 131 ha. Hiện tại đang quy hoạch khu công nghiệp nhỏ Quỳ Châu và Con Cuông. Đã hình thành 04 làng nghề, chủ yếu là một dân dụng, sản xuất gạch ngói và chế bún bánh.

Công tác giáo dục-đào tạo được quan tâm và có nhiều mặt chuyển biến; cơ sở vật chất được tăng cường. Mạng lưới y tế cơ sở được đầu tư và phân bổ đến các vùng dân cư. Công tác xoá đói giảm nghèo, xoá nhà tranh tre, tạm bợ cho đồng bào dân tộc đạt khá. Hoạt động văn hoá-thông tin, thể thao có nhiều khởi sắc, chương trình phát thanh tiếng dân tộc (Mông Thái) phát triển cả về thời lượng và chất lượng. Đời sống vật chất và tinh thần được nâng lên, phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá đlược đẩy mạnh, một số hủ tục , tập quán lạc hậu được hạn chế. Quốc phòng, an ninh được củng cố, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. An ninh biên giới được tăng cường, hạn chế tình trạng di cư trái phép, xây dựng và củng cố khu vực phòng thủ, duy trì và phát triển tốt mối quan hệ Việt-Lào.

Tuy đã đạt những kết quả trên, song do đặc điểm miền Tây Nghệ An có địa bàn rộng lớn, địa hình phức tạp, hình thành nhiều tiểu khu vực thường xuyên bị thiên tai lũ lụt và hạn hán đe doạ, cơ sở vật chất còn thấp kém, việc huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển gặp rất nhiều khó khăn. Nhu cầu vốn rất lớn, nhưng chưa cân đối nổi, chưa có tính đột phá để đủ sức vực dậy cho cả vùng rộng lớn. Hầu hết các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sản xuất kinh doanh ở những ngành, lĩnh vực, sản phẩm có lợi thế so sánh chưa đạt tiến độ đề ra. Nếu không tập trung chỉ đạo và có giải pháp quyết liệt thì sẽ khó đạt các chỉ tiêu mà Quyết định số 147/2005/QĐ-TTg đã phê duyệt.

Bên cạnh đó việc chỉ đạo phát triển tiềm năng, lợi thế miền Tây chưa đúng mức, tư tưởng ỷ lại của một số cán bộ, đảng viên và nhân dân trong vùng còn nặng. Năng lực hoạt động và hiệu quả công tác của hệ thống chính trị còn hạn chế. Năng lực lãnh đạo liệu quả quản lý kinh tế của một số địa phương còn yếu, còn bất cập so với yêu cầu nhiệm vụ. Phần đông cán bộ cơ sở chưa qua đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ văn hoá thấp; đã quan tâm đến việc đào tạo cán bộ cơ sở, nhưng nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Đào tạo nghề cho lao động miền Tây đang là vấn đề nan giải, giải quyết việc làm gặp nhiều khó khăn.

Để thực hiện có hiệu quả Quyết định số 147/QĐ-TTg về phê duyệt đề án phát triển kinh tế - xã hội miền Tây tỉnh Nghệ An đến năm 2010, tỉnh Nghệ An đang tiếp tục rà soát, bổ sung quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội của vùng; rà soát các chương trình dự án đã và đang thực hiện trên địa bàn. Tích cực triển khai các đề án, dự án và chỉ đạo thực hiện thắng lợi kế hoạch năm 2008 và tổng hợp kế hoạch năm 2009. Tiếp tục thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu của Quyết định số 147/QĐ-TTg đã đề ra trong những năm còn lại. Trước mắt tăng cường kiểm tra, đôn đốc, xử lý những vấn đề ách tắc theo thẩm quyền, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các đề án, dự án theo Quyết định số 147/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Thường xuyên kiểm tra các ngành, các huyện tổ chức chỉ đạo triển khai các nội dung của đề án, nghiên cứu cụ thể hoá các mục tiêu, nhiệm vụ, rà soát bổ sung các chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội và các giải pháp đồng bộ, tiến độ cụ thể để tổng hợp báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh, Tỉnh uỷ. Đồng thời tổ chức sơ kết, tổng kết đánh giá kết quả thực hiện hàng năm nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện đề án.

Đối với các sở, ban ngành, đoàn thể cấp tỉnh: Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao, xác định trách nhiệm người đứng đầu chịu trách nhiệm chủ trì phối hợp với các ngành, huyện để triển khai và tổ chức chỉ đạo thực hiện các chương trình, đề án, dự án liên quan đến lĩnh vực phân công phụ trách đúng tiến độ thời gian và đảm bảo chất lượng. Đồng thời căn cứ vào mục tiêu và định hướng phát triển trong từng đề án, dự án để triển khai kế hoạch hàng năm, xây dựng các kế hoạch hành động cụ thể, nghiên cứu đề xuất các cơ chế chính sách huy động nguồn vốn thực hiện các đề án, dự án; để triển khai thực hiện thắng lợi mục tiêu, chỉ tiêu đề ra.

Đối với Uỷ ban nhân dân các huyện: Phối hợp với các sở, ngành liên quan cụ thể hoá Kế hoạch triển khai, các đề án dự án trong Quyết định số 147/2005/QĐ-TTg trên địa bàn để đưa vào đầu tư trong kế hoạch hàng năm. Căn cứ mục tiêu, nhiệm vụ và các đề án, dự án phát triển của kế hoạch triển khai, gắn với tình hình thực tế của địa phương để tiếp tục điều chỉnh các chương trình, dự án các huyện quản lý cho phù hợp với mục tiêu chung để tiến hành chỉ đạo thực hiện.

Với các giải pháp cụ thể và quyết liệt như trên, chắc chắn trong thời gian tới đây, kinh tế-xã hội vùng núi miền Tây tỉnh Nghệ An sẽ có bước phát triển mạnh mẽ, rút ngắn khoảng cách về phát triển kinh tế-xã hội và mức sống giữa miền núi và đồng bằng, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào ngày càng được cải thiện, nâng cao bộ mặt nông nghiệp, nông thôn vùng núi miền Tây Nghệ An ngày càng phát triển.

Hoàng Đức

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,899,543


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs