Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Sông Đà Khúc thượng nguồn bi tráng

 10/05/2012

Thuyền chở hàng hóa trên dòng sông Đà phục vụ đồng bào vùng cao huyện Mường Tè – Lai Châu.

Trong số 3 dòng thuỷ lưu chính góp phần quyết định làm nên đất và nước miền Tây Bắc thì sông Đà là dòng sông có vai trò đặc biệt quan trọng, thi vị nhưng cũng cũng đầy hiểm trở, bí ẩn. Một con sông đã và đang là “điểm đến” hấp dẫn với các nhà điện năng, lâm nghiệp, địa chất, khí tượng thủy văn, du lịch mạo hiểm và cả những người thợ xẻ gỗ vất vả, cánh đào đãi vàng sa khoáng với những tai nạn rủi ro không thể lường trước...

Sau cuộc thoả thuận chả có gì thú vị, tay lái xuống với nước da đen như đồng hun có tên cúng cơm là Cà Văn Tấng, cười vang cả khúc sông, bảo: “Anh thông cảm, ứng trước cho đây vài chục nghìn để lấy may”. Tôi lẳng lặng móc túi đưa tiền.

Chỉ chờ có thế, Tấng nói như ra lệnh: “Ngồi xuống, bám chặt vào. Mùa này nước cạn nên không cần phao cứu sinh”. Nghe mà khiếp, như vậy có nghĩa mùa nước lớn thì hay lật thuyền, lật thuyền mới cần phao cứu sinh?

Sau vài phút dạo đầu lấy đà, bất chợt chiếc xuồng máy 40 mã lực đột ngột tăng tốc, bỏ lại sau lưng điểm hợp lưu ngã ba sông thị xã Mường Lay, mặc cho muôn vàn con sóng như cố tình giằng chiếc xuồng lại. Cuối Xuân đầu mùa Hạ, hai bên sông Đà thỉnh thoảng ta gặp những cánh hoa trắng hồng như soi mình làm dáng cho dòng sông vốn đã mang nhiều câu chuyện tình lãng mạn, tang thương. Trên dòng sông, từng chuyến thuyền độc mộc của cư dân vẫn lặng lẽ mưu sinh.

Bản tính sông Đà là thế, vào mùa cạn nó hiền như một kiều nữ chưa chồng. Nhưng khi thuỷ chế thay đổi thì dòng sông chỗ nào cũng như một thạch trận với thiên la địa võng đang rình rập. Với bà con các dân tộc thì dòng sông chính là “dòng đời”, gắn liền với vui buồn đời họ, gắn với bát cơm tấm áo cho dù đó là bát cơm tấm áo đánh đổi bằng sự nhọc nhằn và nhiều khi bằng cả mạng sống mong manh. Trăm ngàn những cuộc mưu sinh treo trên các lèn đá, mài mòn các doi cát. Và như tay chèo Cà Văn Tấng thì sinh mạng phó thác vào sự may rủi, nơi các con sóng bạc đầu vừa kiêu hãnh lại vừa thách đố. Có người bảo con sông Đà biết vui buồn và giận dữ, biết hiến dâng và cả biết cách trừng phạt, đó là lúc dòng sông quăng quật qua 73 con thác dữ có tên và mấy trăm ghềnh thác không tên.

Từ biên giới Việt - Trung, điểm đầu tiên sông Đà đổ vào nước ta là núi Ma Su trên bình đồ 1.500m (thuộc xã Mù Cả, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu). Nơi đây có Trạm kiểm soát Kẻng Mỏ đầu nguồn sông Đà, thuộc Đồn Biên phòng 315 Mù Cả (Bộ Chỉ huy Biên phòng Lai Châu); có bản Xi Nế của người Hà Nhì nằm nghiêng nghiêng bên những vạt hoa dã quỳ vàng rực biên cương.

Ngay ở cái thác thứ nhất này, sông Đà đã mang theo “thông điệp” cảnh báo về sự hiểm nguy thường trực. Theo tiếng Quan hoả, “Kẻng Mỏ” tức là “mất chảo”. Chuyện kể rằng xưa thổ dân vùng giáp biên Vân Nam (Trung Quốc), thường xuôi thuyền theo sông Đà mang chảo gang sang bán cho dân ta. Có vô vàn chuyến thuyền bị lật ở con thác này, dìm xuống dòng Đà giang không biết bao nhiêu mạng người cùng chảo gang. Con thác vì thế mang tục danh “Kẻng Mỏ”- một cái tên đọc lên nghe có âm thanh leng keng tiếng kim loại.

Lách qua một cách khéo léo và ngạo nghễ giữa hai khe núi hẹp, một bên là ngọn núi Ka Lăng cao 1.799m và bên kia là dãy Ma Su cao 1.609m, sông Đà chảy vào Việt Nam theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Tôi chợt nhớ chi tiết lịch sử đời nhà Trần (1225 - 1400), lúc nước ta chia làm 15 lộ thì sông Đà có vinh quang được đặt cho lộ Đà Giang. Để rồi gần 5 thế kỷ sau, Chánh sứ sơn phòng kiêm Tuần phủ Hưng Hoá Nguyễn Quang Bích (1832 - 1890) từng viết những câu thơ da diết: “Chúng thuỷ giai Đông tẩu // Đà giang độc Bắc lưu” (Mọi con sông đều chảy về hướng Đông, riêng sông Đà chảy theo hướng Bắc).

Sông Đà còn gọi là sông Bờ hay Đà Giang, là phụ lưu lớn nhất của sông Hồng, có chiều dài 927km. Đoạn ở Trung Quốc sông Đà có tên là Lý Tiên Giang, do hai nhánh Bả Biên Giang và A Mặc Giang hợp nguồn, dài 400km khởi thuỷ từ núi Nguy Bảo ở huyện tự trị người Di-Hồi và núi Nguy Sơn phía nam châu tự trị dân tộc Bạch Đại Lý, chảy qua Phổ Nhị tới biên giới Việt-Trung. Đoạn ở Việt Nam dài 527km (có tài liệu ghi 543km), mang theo sự sống nối đời như một định mệnh của khoảng hơn 2,2 triệu cư dân dọc hai bên dòng sông. Từ điểm đầu trên biên giới Việt Nam-Trung Quốc tại huyện Mường Tè (Lai Châu), sông Đà chảy qua các tỉnh Tây Bắc-Việt Nam là Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình và tỉnh cuối cùng là Phú Thọ với điểm ngã ba Hồng Đà, thuộc huyện Tam Nông.

Trong số rất nhiều tên gọi: Black River (Anh), Rivière Noire (Pháp), Ly Tiên Giang (Hán), Hồng Đà (Nôm), Nậm Tè (Thái) và sông Đà (Việt)... thì sông Đà là cái tên ấn tượng và gợi cảm nhất, được nhiều người biết nhất. Với diện tích lưu vực 52.900km2, sông Đà cung cấp 31% lượng nước và là chi lưu lớn nhất của hệ thống sông Hồng. Căn cứ vào lưu tốc dòng chảy, sông Đà được các nhà nghiên cứu xếp vào loại hung dữ bậc nhất ở Đông Dương, là “thủ phạm” chính gây nên 50% lũ lụt sông Hồng.

Tuy nhiên trong vài thập kỷ trở lại đây qua, công cuộc điện khí hoá của Đảng ta đã đưa “con sông hung dữ bậc nhất” trở thành “đệ nhất dòng sông ánh sáng”, với nguồn thuỷ điện vô cùng vô tận. Sau công trình Nhà máy Thuỷ điện Hoà Bình công suất 1.920 MW, công trình Thuỷ điện Sơn La gồm 6 tổ máy với tổng công suất 2.400 MW đã hòa lưới điện quốc gia với điện năng bình quân hàng năm đạt 9,429 tỉ - 10,2 tỉ KWh.

Mới đây (24/4), Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã phát lệnh ngăn sông đợt 1 Thủy điện Lai Châu, xây dựng tại xã Nậm Hàng, huyện Mường Tè. Thủy điện Lai Châu là bậc thang trên cùng của sông Đà, có nhiệm vụ bổ sung nguồn điện cho hệ thống điện quốc gia, phục vụ phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội của đất nước với lượng điện bình quân hàng năm đạt 4.704 triệu KWh. Theo tính toán của các chuyên gia, dự kiến tổ máy số 1 sẽ phát điện vào năm 2016, Công trình hoàn thành bàn giao đưa vào khai thác năm 2017.

Các công trình thủy điện trên dòng sông Đà được đầu tư phục vụ phát triển đất nước, đồng bào các dân tộc trên vùng dự án đã vui vẻ di dời tái định cư, tất cả vì dòng điện ngày mai của Tổ quốc. Các chương trình, dự án mục tiêu được triển khai, đồng bào có điều kiện sắp xếp lại dân cư, có cơ hội chuyển đổi nghề nghiệp; nhiều công trình xây dựng kết cấu hạ tầng trọng điểm quốc gia đã hoàn thành đưa vào sử dụng phục vụ dân sinh, nâng cao đời sống nhân dân vùng sông Đà.

Du lịch trên sông Đà là hoạt động hấp dẫn, một dịp để thưởng ngoạn khúc thượng nguồn bi tráng với cảnh sắc trữ tình của vùng sơn khê cẩm tú. Qua đó cảm nhận về cái mênh mang đằm thắm và dữ dằn cố hữu của dòng sông từng có tên trong chính sử nước nhà, để tự hào về dân tộc giàu truyền thống chống ngoài xâm. Ngược sông Đà, ta nghe đâu đây ý thơ cảm khái của Thái tổ Cao hoàng Lê Lợi trên đường chinh phạt Mường Lễ: “Khắc lên vách đá bài thơ // Trong lần đi giữ cõi bờ miền Tây”...

Bài và ảnh: Quốc Lâm

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Gặp nhân chứng sống ở Truông Bồn (05/2012)
  •  
  • Đổi thay “làng cách mạng” Ông Tía (05/2012)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 60,817,997


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs