Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 08/05/2012
Thực hiện hiệu quả chính sách dân tộc của Đảng ở tỉnh Sơn La
Sơn La là tỉnh vùng cao biên giới, có 12 dân tộc cùng sinh sống, đồng bào các dân tộc trong tỉnh luôn có truyền thống đoàn kết, yêu nước, tin tưởng vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có tinh thần đoàn kết giúp đỡ nhau vượt qua mọi khó khăn. Trong những năm qua tỉnh Sơn La luôn xác định việc thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ quan trọng tỉnh đã tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào dân tộc thiểu số ổn định đời sống phát triển kinh tế xóa đói giảm nghèo vươn lên làm giàu tại chính quê hương.

Về đời sống kinh tế: thực hiện hỗ trợ xây dựng được 902 mô hình phát triển kinh tế, trên 30.000 hộ tham gia; hỗ trợ trực tiếp cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo các loại giống cây, con phục vụ cho phát triển nông nghiệp, cung cấp 1.075.679 tấn phân bón, 1.656 máy móc, công cụ sản xuất; tập huấn khuyến nông, khuyến lâm cho trên 15.000 lượt người; hỗ trợ 156,78 ha cho 594 hộ nghèo thiếu đất sản xuất; trợ giá các loại giống cây trồng 2.123.607 tấn; trợ cước vận chuyển phân bón 54.739,053 tấn; trợ giá, trợ cước vận chuyển muối iốt được 28.780,766 tấn; trợ cước vận chuyển thủy sản 98.925 nghìn con; ngoài ra còn hỗ trợ cước vận chuyển dầu hỏa, cước tiêu thụ bông hạt, dầu muối cấp không thu tiền và cấp giống với khối lượng là 1.302 tấn.

Về đầu tư phát triển hạ tầng: bằng nguồn vốn của các chương trình, chính sách như: Chương trình 134, Chương trình 135 giai đoạn II, định canh định cư,… tỉnh đã tập trung đầu tư xây dựng khá đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật cho các xã đặc biệt khó khăn; đầu tư xây dựng mới và sửa chữa được 505 công trình nước sinh hoạt tập trung, 670 công trình nước phân tán, 60 công trình điện sinh hoạt; 77 công trình trường, lớp học, nhà bán trú học sinh, nhà ở giáo viên; 266 công trình đường giao thông đến bản, xã được 1.039 km và 23 cầu treo; xây dựng mới 56 công trình thủy lợi và nâng cấp 167 nhà văn hóa; khai hoang, hỗ trợ đất sản xuất được gần 157 ha đất, đảm bảo nước tưới tiêu, sản xuất nông nghiệp; xóa xong 18.232 nhà tạm bợ, dột nát (theo Chính sách 134). Đến nay, 89/90 xã đặc biệt khó khăn có đường ô tô đến trung tâm xã, 09 trung tâm cụm xã đã hoàn thành nhựa hóa đường giao thông, thêm 324 bản có đường ô tô đến trung tâm bản, 70% số hộ ở các xã đặc biệt khó khăn được sử dụng nước hợp vệ sinh, 205/206 xã có trạm hạ thế điện đạt 99%, 97% xã có trạm y tế xã. Cũng trong thời gian trên các xã đặc biệt khó khăn đã có trên 7.000m2 trường lớp học và nhà bán trú học sinh thuộc các xã đặc biệt khó khăn được đưa vào sử dụng... Việc đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng trong những năm qua đã góp phần hết sức quan trọng trong việc thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Lĩnh vực văn hóa, xã hội: Hiện đã tổ chức đào tạo, bồi dưỡng được 537 lớp với tổng số 30.342 lượt người, trong đó: cán bộ xã 5.342 lượt người; 22.819 cán bộ bản, dậy nghề cho 2.181 thanh niên dân tộc thiểu số; hỗ trợ học sinh nghèo cho 161.031 lượt học sinh con hộ nghèo thuộc 90 xã khu vực III, 310 bản đặc biệt khó khăn thuộc xã khu vực II. Tỷ lệ học sinh đặc biệt là học sinh nữ dân tộc ít người như Mông, Dao, Kháng, La Ha được huy động đến trường ngày càng cao. Học sinh là con em dân tộc thiểu số được hưởng các chế độ hỗ trợ học sinh bán trú dân nuôi và chính sách hỗ trợ 50% học phí…; 90/90 xã đặc biệt khó khăn đã có trạm y tế, 2.898/3.175 bản có y tế bản; 100% xã có điện thoại; thành lập mới được 90 câu lạc bộ trợ giúp pháp lý, hỗ trợ hoạt động văn hóa và trợ giúp pháp lý 1.480 triệu đồng; 22 trạm phát thanh truyền thanh tại 22 xã đặc biệt khó khăn.

Công tác bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc được quan tâm. Đến nay đại đa số các xã đặc biệt khó khăn có nhà văn hoá phục vụ sinh hoạt cộng đồng. Nhiều bản, xã thành lập đội văn nghệ, đội bóng đá, bóng chuyền và tham gia các giải thi đấu do tỉnh tổ chức đạt kết quả cao.

Về quốc phòng - an ninh: tình hình an ninh chính trị, an ninh tuyến biên giới Việt Nam - Lào, trật tự an toàn xã hội được duy trì ổn định. Công tác tiếp dân giải quyết đơn thư của dân được thực hiện chặt chẽ, thực hiện các cuộc thanh tra, kiểm tra. Quan hệ đối ngoại hữu nghị, hợp tác giữa cán bộ và nhân dân 2 biên giới Việt Nam - Lào tiếp tục được phát huy.

Từ những thành quả đã đạt được trong công tác dân tộc ở Sơn La, có thể rút ra một số kinh nghiệm:

Một là, cần làm tốt công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong đồng bào các dân tộc; nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình; tăng cường các hoạt động văn hóa, thông tin, tuyên truyền; tăng cường các hoạt động văn hóa, thông tin, tuyên truyền hướng về cơ sở; nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục đào tạo, chú trọng các trường nội trú; củng cố kiện toàn mạng lưới y tế cơ sở, nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe nhằm nâng cao thể chất cho đồng bào các dân tộc, nhất là đồng bào thiểu số đặc biệt khó khăn.

Hai là, đẩy mạnh viêc quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng, khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển những cây con phù hợp và giá trị kinh tế cao, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, khuyến khích nhân dân xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu hợp pháp; chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo, chống mù chữ và tái mù chữ, nâng cao dân trí cho đồng bào các dân tộc, nhất là đồng bào ở vùng sâu, vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn; củng cố phát triển mạng lưới y tế, nhất là y tế cơ sở, nâng cao chất lượng bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Ba là, tuyên truyền vận động nhân dân phát triển kinh tế, xó đói giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là đồng bào vùng sâu, vùng cao biên giới; thực hiện có hiệu quả chương trình định canh, định cư, xóa đói giảm nghèo, các chương trình của Chính phủ của tỉnh (Chương trình 135, Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ; Quyết định số 3665, 177/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh…) về hỗ trợ các bản đặc biệt khó khăn, chưa ổn định sản xuất và đời sống.

Bốn là, làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, coi trọng đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị đối với cán bộ cơ sở. Có chính sách động viên, bồi dưỡng, phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ, người có uy tín, đồng thời tăng cường công tác vận động thu hút đông đảo nhân dân các dân tộc tham gia vào các đoàn thể chính trị - xã hội.

Năm là, chăm lo xây dựng, củng cố tổ chức đảng, hệ thống chính trị cơ sở thực sự vững mạnh, củng cố lực lượng dân quân, tổ an ninh cơ sở, cụm dân cư tự quản; tăng cường công tác quản lý hộ tịch hộ khẩu, phát hiện và đấu tranh kịp thời với các hoạt động truyền đạo trái phép, không để kẻ xấu và các thế lực thù địch lợi dụng, kích động, xuyên tạc.

Mai Thị Loan

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,894,795


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs