Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Định danh ca dong

 15/02/2012

Già làng người Ca Dong trong ngày lễ.

Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, cùng với nhiều thành phần dân tộc anh em khác, tộc người Ca Dong ở vùng Trà My-Quảng Nam, luôn một lòng một dạ theo Đảng, theo Bác Hồ, đóng góp sức người, sức của cho hòa bình độc lập hôm nay.

Từ khi Tổng cục Thống kê công bố danh sách 54 thành phần dân tộc Việt Nam vào tháng 3/1979, người Ca Dong được coi là một trong những nhóm thuộc dân tộc Xơ -đăng chứ không phải là một dân tộc riêng biệt.

Tuy nhiên, với đời sống văn hóa, ngôn ngữ, phong tục tập quán, lễ hội riêng biệt và với ý thức tộc người, bao thế hệ người Ca Dong ở vùng Trà My (Bắc Trà My và Nam Trà My) Quảng Nam luôn mong muốn tìm lại “danh phận” của một tộc người… Trong hành trình đó, có sự góp sức không nhỏ của nhiều con người mang nặng duyên phận với tộc người Ca Dong…

Truyền thuyết người Ca Dong

Không ai nhớ, tộc người này đã khai sinh, phát triển và tồn tại trên đỉnh núi cao Ngok Linh của vùng đất Trà My bao nhiêu năm rồi. Nhưng với một tộc người vốn có ngôn ngữ riêng, có tục ăn trâu huê khác biệt và kiểu đánh chiêng sôi nổi, hào hùng trong những ngày hội thì người ta có thể dễ dàng nhận ra đó chính là những nét đặc trưng của người Ca Dong...

Sử thi của người Ca Dong kể rằng, từ thuở hồng hoang, có hai anh em mồ côi sống chung trên đỉnh núi Ngok Linh. Vào một ngày nọ, khi đi săn được một con dúi, người anh bận việc vào rừng, do sơ suất, nên người em đã để thú dữ ăn mất con dúi. Về nhà không thấy con dúi đâu, người anh nghi cho người em tham ăn đã tự thịt con dúi và ăn hết. Người em tủi thân bỏ nhà ra đi về hướng mặt trời mọc để tìm đường sinh sống. Người anh ở lại lập làng, nóc gọi là người Xơ-đăng. Người em dựng nóc, lập làng, sinh con đẻ cái, gọi là người Ca Dong. Người Ca Dong ra đời từ đó...

Theo Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ, cán bộ Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam, câu chuyện hai anh em người Ca Dong chia tay nhau là minh chứng cho sự chuyển cư của người Ca Dong từ phía Tây sang phía Đông, từ vùng cao xuống vùng thấp. Theo thống kê của Ban Dân tộc tỉnh thì, toàn tỉnh Quảng Nam có gần 27.000 người Ca Dong, chỉ đứng sau dân tộc Cơ-tu (có trên 44.000 người). Như vậy chứng tỏ, sự tồn tại và phát triển của tộc người Ca Dong trên đất Quảng Nam đã trải qua hàng thế kỷ. Và không phải chỉ trên đất Quảng Nam mà ở các tỉnh khác cũng có người Ca Dong cư trú.

Cũng giống như một số dân tộc khác ở dãy Trường Sơn, người Ca Dong ở vùng Trà My sống thành những cộng đồng nhỏ, theo mô hình làng, nóc. Tên của mỗi ngôi làng, nóc được đặt theo tên của già làng có uy tín nhất, như: làng ông Tía, nóc ông Đoàn, nóc ông Dinh... Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn nhất của người Ca Dong đó là không có nhà sinh hoạt truyền thống như các dân tộc khác. Mọi sinh hoạt cộng đồng của đồng bào thường được tổ chức tại nhà của già làng vào ban đêm và bên bếp lửa. Ở đó, các già làng truyền dạy cho con cháu những kinh nghiệm đúc kết trong lao động và ngay cả trong những làn điệu dân ca k’cheo, hát a giới, hát đối đáp- một trong những sản phẩm văn hóa độc đáo của người Ca Dong.

Về mặt pháp lý, tuy người Ca Dong là một nhóm thuộc dân tộc Xơ-đăng, nhưng trong ngôn ngữ, đời sống âm nhạc, nhất là văn hoá cồng chiêng lại hoàn toàn khác. Người Ca Dong thường có 3 chiêng và 2 trống, còn người Xơ-đăng thì có 12 chiêng. Người Xơ-đăng chú trọng về giai điệu, còn người Ca Dong thì nghiêng hẳn về phần tiết tấu. Vì vậy, điệu múa cồng chiêng của người Ca Dong rất mạnh mẽ, có hồn thiêng âm vang của núi rừng.
Nhạc sỹ Dương Trinh, Trưởng phòng Văn hóa Tuyên truyền huyện Nam Trà My cho biết: “Ngôn ngữ nói của hai dân tộc này cũng hoàn toàn khác nhau, Ví dụ nói “ăn cơm” thì người Ca Dong dùng từ Poil, còn người Xơ-đăng thì dùng từ Kh.meng. Trong âm nhạc, người Ca Dong có hát k’cheo, còn người Xơ-đăng lại có hát ting ting...

Tha thiết “Định danh, chính phận”

Như vậy, từ những cứ liệu dày dặn trong quá khứ, lịch sử cùng với những nét văn hóa đặc trưng hiện tại, có thể nói rằng, người Ca Dong đã định hình nên sự khác biệt khá rõ nét so với những tộc người khác... Vì lẽ đó, từ sau ngày giải phóng đến nay, trong các văn bản, giấy tờ của người Ca Dong như: giấy khai sinh, chứng minh nhân dân, các khai báo tư pháp hộ tịch, hộ khẩu, đến thẻ đảng viên... người Ca Dong ở 2 huyện Bắc Trà My, Nam Trà My và xã Sông Trà, huyện Hiệp Đức đều kê khai thành phần dân tộc là Ca Dong. Tuy vậy, trong “Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam” do Tổng cục Thống kê công bố năm 1979, thì người Ca Dong chỉ là một nhóm thuộc dân tộc Xơ-đăng (!?)...

“Mình là người Ca Dong chứ không phải người Xơ-đăng. Mình già rồi, mình chỉ mong sao Đảng, Nhà nước công nhận mình là người Ca Dong. Có như vậy, những bài hát của mình sẽ có ý nghĩa hơn, vui hơn, sẽ góp phần gìn giữ bản sắc của người Ca Dong...”-ông Hồ Văn Dinh, thôn 3 xã Trà Bui, huyện Bắc Trà My thổ lộ.

Trước những thiết tha “định danh-chính phận” của tộc người Ca Dong, 3 năm qua, Viện Dân tộc (UBDT) đã phối hợp với Ban Dân tộc tỉnh Quảng Nam có nhiều chuyến khảo sát về ý thức tộc người Ca Dong ở 2 huyện Bắc Trà My-Nam Trà My. Qua đó, tìm ra một số nét tương đồng và khác biệt giữa dân tộc Ca Dong với các dân tộc khác, như: Xơ-đăng, Cor... Trong đó, tục ăn trâu huê, tục 2 vợ nối dây, đánh trống chiêng trong các ngày lễ hội, dệt vải... của người Ca Dong hoàn toàn không giống người Xơ-đăng. Hiện tại, các nhà khoa học đang tiếp tục trải qua những khảo sát, để khẳng định đầy đủ về các vấn đề khoa học, lịch sử, để có quyết định công nhận tộc người Ca Dong là một dân tộc độc lập.

Bao đời nay, trong sâu thẳm tiềm thức, bằng tên gọi, ngôn ngữ, tính cố kết, đồng bào Ca Dong ở vùng Trà My đã và đang góp thêm những giá trị văn hóa rất riêng của một tộc người vào sự đa dạng chung cho nền văn hóa các dân tộc Việt Nam...

Bài và ảnh: Ngọc Tuấn

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Bí mật nhạc khí Tây Nguyên (02/2012)
  •  
  • Người mang “vàng” cho thảo nguyên xanh (02/2012)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 60,490,577


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.3 secs