Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Bảo tồn văn hoá truyền thống của người Bố Y ở Hà Giang

 25/08/2011
Do những biến thiên của lịch sử, người Bố Y (còn có các tên gọi khác như: Chủng Chá, Trọng Gia, Tu Dí, Tu Dìn, Pu Nà) di cư từ các tỉnh Quý Châu, Vân Nam (Trung Quốc) đến sinh sống ở Hà Giang khoảng trên 100 năm nay. Hiện tại, dân số dân tộc Bố Y sinh sống ở tỉnh miền núi, biên giới cực Bắc Tổ quốc có khoảng 900 người, tập trung chủ yếu tại xã Quyết Tiến, huyện Quản Bạ và rải rác ở một số xã khác của huyện Đồng Văn.

Người Bố Y ở Hà Giang sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy. Đồng bào nuôi nhiều gia súc, gia cầm, đặc biệt rất có kinh nghiệm nuôi cá. Hàng năm, khi mùa mưa đến, đồng bào lại rủ nhau ra sông tìm vớt trứng cá, cá lớn để thả vào ao và ruộng nước, tạo nguồn thực phẩm cho bữa ăn hàng ngày. Trong cuộc sống, người Bố Y biết làm mộc, rèn, gốm, đục đá, chạm bạc. Phụ nữ biết trồng bông, kéo sợi, dệt vải, may vá, thêu thùa quần áo, túi, khăn.

Gia đình người Bố Y ở Hà Giang được tổ chức theo gia đình phụ quyền, tức là mọi vấn đề trong nhà đều do người đàn ông quyết định. Sống dưới một mái nhà có tới 3 thế hệ nhưng bao giờ bữa cơm cũng chung một mâm để thể hiện sự đoàn kết, thương yêu giữa các thế hệ. Trong mỗi dòng họ có hệ thống tên đệm từ 5-9 chữ. Mỗi chữ đệm dành cho một thế hệ và chỉ rõ vai vế của người mang dòng chữ đó trong quan hệ họ hàng. Khi hết một chu kỳ tên đệm của dòng họ đó thì quay trở lại chữ đầu. Do có trật tự chữ đệm nên trong mỗi gia đình người Bố Y, dòng họ anh em trai chỉ khác nhau về tên gọi, còn tên đệm thì giống nhau. Người Bố Y xưng hô theo tuổi tác chứ không phân biệt theo chi, nhánh hay con chú, con bác.

Bố Y là một trong những dân tộc có dân số ít ở Hà Giang nhưng cho đến nay, dân tộc này vẫn giữ được những nét văn hoá truyền thống, tạo nên bản sắc riêng, độc đáo. Ví dụ như trong lễ cưới, chàng rể không đi đón dâu. Cô em gái của chú rể dắt con ngựa hồng đẹp mã để chị dâu cưỡi lúc về nhà chống. Đối với đám ma, con cái phải kiêng kị nghiêm ngặt trong 90 ngày đối với tang mẹ và 120 ngày đối với tang cha. Trong thời gian tang chế 3 năm, con trai không được uống rượu, con gái không được mang đồ trang sức, đoạn tang mới được tính chuyện cưới xin.

Người Bố Y hàng năm đều tổ chức các lễ, tết như: Tết Nguyên đán (Đân chinh), Rằm tháng Giêng (síp hả), Tết Đoan ngọ (Toản vù), Tết cơm mới… Trong những dịp này, đồng bào thường làm xôi nếp nhuộm đỏ, bánh dày, bánh chưng, bánh chay để cúng tổ tiên, trời đất, cầu cho mưa thuận gió hoà, con người khoẻ mạnh, mùa màng tươi tốt, bội thu.

Khi có lễ hội, người Bố Y thường tổ chức hát đối đáp tại phiên chợ xuân hay tại nhà, lời ca được phụ hoạ bằng tiếng kèn lá. Bên cạnh đó, còn tiến hành các trò chơi đánh đu, cờ tướng, đánh quay, đánh khăng…

Có thể thấy rằng dân tộc Bố Y có truyền thống văn hoá đặc sắc, phong phú. Tuy nhiên, đặc điểm của các dân tộc thiểu số ở nước ta là cư trú đan xen nhau, không có lãnh địa riêng của từng dân tộc. Đặc điểm này góp phần tạo nên tính đoàn kết giữa các dân tộc nhưng đồng thời cũng ảnh hưởng đến việc giữ gìn bản sắc văn hoá của từng dân tộc bởi vì khi chung sống đan xen, chắc chắn sẽ có sự giao thoa về mặt văn hoá (một cách tự nhiên hoặc tự nguyện). Dân tộc Bố Y cũng không tránh khỏi quy luật này. Một điều dễ nhận thấy nhất đó là trang phuc của người Bố Y sử dụng trong các lễ hội đã thay đổi theo thời gian. Nếu như trước đây, người phụ nữ Bố Y mặc váy xoè như váy của phụ nữ người Mông thì ngày nay họ ăn mặc như người Nùng cùng địa phương. Riêng phụ nữ nhóm Tu Dí ăn mặc theo kiểu người Hán nhưng áo có ống tay rời. Ngôn ngữ của người Bố Y cũng không chỉ có tiếng mẹ đẻ mà còn sử dụng tiếng Nùng trong giao tiếp hàng ngày. Dân số ít lại tiếp xúc, giao lưu nhiều với các dân tộc khác trong vùng nên vốn văn hoá dân gian của dân tộc Bố Y như truyện cổ tích, thần thoại đang ngày càng bị mai một… Ông Nguyễn Trùng Thương-Giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Hà Giang cho biết: chỉ còn khoảng 5% người Bố Y hiểu được 80% nội dung dân ca, chữ viết và tiếng nói cổ của dân tộc mình; Khoảng 20% người Bố Y hiểu được khoảng 50%, còn lớp trẻ hầu như không biết. Nguy cơ lớn nhất là mất tiếng nói. Ngôn ngữ của người Bố Y không được đưa vào hệ thống giáo dục, trong khi để giao tiếp hàng ngày, hoặc là đồng bào phải sử dụng tiếng phổ thông, hoặc sử dụng tiếng Nùng. Bởi thế, tiếng mẹ đẻ của người Bố Y chỉ còn lại ở những người ít tiếp xúc ra ngoài xã hội. Mà số người đó đang ngày càng già đi…

Để bảo tồn bản sắc văn hoá của dân tộc Bố Y, cách tốt nhất là sự truyền dạy từ thế hệ này sang thế hệ khác như là tiếng nói. Song cũng rất cần có một chiến lược lâu dài mà ngành Văn hoá phải là chủ thể để nghiên cứu và đề xuất phương án bảo tồn. Những năm qua, ngành Văn hoá tỉnh Hà Giang đã xây dựng và tiến hành Đề án khảo sát, đánh giá tổng thể các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc, trong đó các giá trị văn hoá vật thể được tập trung đánh giá kỹ lưỡng, từ đó lên kế hoạch lưu giữ. Ngành cũng đã tiến hành 16 Đề án nghiên cứu văn hoá phi vật thể của các dân tộc, trong đó có Đề án Hát dân ca của người Bố Y. Có chính sách khuyến khích các nghệ nhân, cử cán bộ xuống cơ sở khảo sát, ghi chép, xây dựng kế hoạch mở lớp để nghệ nhân truyền dạy dân ca cho thế hệ trẻ. Chính quyền địa phương khuyến khích, vận động đồng bào sử dụng trang phục, ngôn ngữ của dân tộc trong cuộc sống hàng ngày, trong giao tiếp giữa cha mẹ và con cái. Phát huy vai trò của người cao tuổi trong việc giáo dục truyền thống, vốn văn hoá tốt đẹp của dân tộc cho thanh niên người Bố Y bởi đây chính là thế hệ sẽ tiếp tục duy trì và quyết định việc gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc trong tương lai.

Trần Trí

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Bắt tay trong văn hóa ẩm thực ở Tây Bắc (08/2011)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 61,901,006


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs