Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Thiết chế xã hội truyền thống của các tộc người thiểu số

 16/08/2011
Thiết chế xã hội là hệ thống những giá trị chuẩn mực và các vai trò xã hội gắn bó qua lại với nhau, được tạo ra và hoạt động để thoả mãn những nhu cầu cơ bản và thực hiện những chức năng xã hội quan trọng nhất định. Chúng giữ chức năng điều hoà và kiểm soát, buộc các cá nhân phải tuân thủ theo các chuẩn mực, giá trị xã hội; những quy định, hạn chế đối với hành vi. Có thể nói, thiết chế xã hội chính là cơ sở cho trật tự xã hội.

Đặc điểm chung về thiết chế xã hội truyền thống: Do kinh tế phát triển không đều nên trình độ phát triển xã hội có sự chênh lệch nhau. Ví dụ người La Hủ (ở Lai Châu), người Rục (ở Quảng Bình), người Khơ Mú, Cơ Tu… vẫn duy trì kinh tế hái lượm và săn bắn. Đối với hình thái kinh tế sản xuất, phương thức canh tác chủ yếu của các tộc người thiểu số ở miền núi là nương rẫy. Người Mnông, Xtiêng, Mạ, Kháng, Xinh Mun, Hmông… kinh tế nương rẫy suốt một thời kỳ dài gắn liền với việc du canh du cư nên không ổn định, kém phát triển. Một số tộc người thiểu số ở vùng thấp, thung lũng thì vừa giỏi làm nương rẫy, vừa giỏi làm ruộng nước như người Tày, Thái, Mường… Ngoài các loại cây lương thực, họ còn trồng các loại cây công nghiệp như hồi, mía, quế; chăn nuôi gia súc, gia cầm; làm các nghề thủ công như dệt, đan lát… để đáp ứng nhu cầu của cuộc sống. Trong qúa trình sản xuất nông nghiệp, nhiều tộc người đã sáng tạo ra hệ thống thuỷ lợi “làm thay đổi dòng chảy”. Mương, phai, lốc, cọn đã đạt trình độ cao và trở thành một trong những hệ thống thuỷ lợi điển hình của khu vực Đông Nam á. Các tộc người Chăm, Khmer là chủ nhân của vùng đồng bằng. Trên cơ sở trồng lúa nước, chăn nuôi và thủ công nghiệp phát triển, người Chăm, Khmer có đời sống kinh tế - xã hội phát triển sớm và ở trình độ cao.

Số lượng dân cư của từng tộc người khác nhau cũng đóng vai trò rất quan trọng dẫn đến sự khác nhau của thiết chế xã hội. Theo số liệu thống kê Tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 1/4/2009, dân số Việt Nam có 85.789.573 người, trong đó 53 tộc người thiểu số chiếm khoảng 14% dân số cả nước. Tuy nhiên, tỷ lệ số dân giữa các tộc người thiểu số cũng không đều nhau.

Trong từng khu vực, các tộc người có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn (Tày, Thái…) đã áp đặt thiết chế xã hội của mình lên các tộc người phụ thuộc (Khơ Mú, Xinh Mun...) Tuy nhiên, các tộc người này vẫn bảo tồn ở mức độ nhất định thiết chế xã hội của mình. Các tộc người sống xen kẽ với nhau có ảnh hưởng lẫn nhau về thiết chế xã hội. Do đó, có khi trong cùng một tộc người nhưng thiết chế xã hội cũng có sự khác nhau. Ví dụ: các tộc Tày, Thái, Mường… ở gần nhau hoặc ở gần hay xen kẽ với người Kinh thì ảnh hưởng lẫn nhau hoặc ảnh hưởng người Kinh. Bên cạnh đó, lịch sử phát triển của các tộc người rất đa dạng. Có tộc người đã là cư dân bản địa ở Việt Nam, là đồng chủ nhân của nền văn hoá Đông Sơn như người Mường; nhưng cũng có những tộc người cư trú ở Việt Nam khoảng 200 - 300 năm trở lại đây như người Hmông, một số ngành Dao… Các tộc người này vốn cư trú ở phía nam Trung Quốc nhưng vì nhiều lý do đã di cư xuống phương Nam (trong đó có Việt Nam). Đa số các tộc người này đều là những cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, nhưng khi đến Việt Nam đã buộc phải từ bỏ phương thức canh tác truyền thống (ruộng nước) để chuyển sang một phương thức canh tác khác (trên đất khô, trên rẫy) như người Mông.

Tiêu chí về quan hệ xã hội được coi là cơ bản, giúp chúng ta nhận thức tương đối toàn diện về thiết chế xã hội cổ truyền của các tộc người. Tiêu chí này có thể phân chia thành ba loại sau:

Các tộc người đã phân hóa giai cấp sâu sắc, do đó xuất hiện những tổ chức xã hội cao để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị. Đó là các tộc người Tày, Thái, Mường, Nùng, Khmer, Chăm...

Các tộc người đạt trình độ phân chia giàu nghèo, sự đối lập về kinh tế, xã hội chưa sâu sắc. Số đông các tộc người thiểu số ở Việt Nam thuộc loại này.

Một số tộc người có trình độ kinh tế - xã hội thấp, sống chủ yếu bằng săn bắt, hái lượm; hoặc các tộc người có dân số quá ít. Đó là các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến, Môn-Khmer… sống trên các vùng núi cao dọc biên giới phía Bắc, Trường Sơn, Tây Nguyên.

Đặc điểm về hôn nhân, gia đình cũng là một tiêu chí để nhận thức về thiết chế xã hội cổ truyền của các tộc người.

Các tộc người theo chế độ phụ hệ, phụ quyền: Người vợ cư trú bên chồng, con theo họ cha, quyền thờ cúng tổ tiên thuộc con trai trưởng; người đàn ông có vai trò quyết định trong tang ma, cưới xin, làm nhà… Phần lớn các tộc người thiểu số ở Việt Nam theo thiết chế phụ hệ.

Các tộc người theo chế độ mẫu hệ, mẫu quyền: Người chồng cư trú bên vợ, con theo họ mẹ, quyền thờ cúng tổ tiên thuộc con gái út; người đàn bà có vai trò quyết định trong tang ma, cưới xin, làm nhà… ở Việt Nam, các tộc người Chăm, Ê Đê, Giarai, Raglai, Churu theo thiết chế mẫu hệ.

Có thể nói sự tồn tại của thiết chế phụ hệ cũng như mẫu hệ trong các tộc người chỉ là sự phát triển khác nhau của biện chứng lịch sử. Hệ thực ra là tập tục quy định cách tính tử hệ (tính dòng họ); quyền thừa kế tài sản, quyền sở hữu, kế vị chức vụ xã hội và gắn với nó là các tập tục trong hôn nhân, gia đình. Hệ tuyệt nhiên không phải là thước đo đánh giá sự phát triển văn minh hay lạc hậu và kinh tế - xã hội của các tộc người, cho dù tộc người đó theo cấu trúc mẫu hệ, phụ hệ hay song hệ.

Các tộc người thiểu số hiện nay vẫn duy trì nhiều truyền thống tốt đẹp. Đó là truyền thống cộng đồng trong làng bản: Nền tảng xã hội của các tộc người thiểu số ở Việt Nam là công xã nông thôn, dù phát triển ở trình độ cao hay thấp, đều có một điểm chung là sự cố kết cộng đồng rất chặt chẽ. Các mối quan hệ trong làng bản đều theo đạo lý “lá lành đùm lá rách”, đến độ dù không gặp thiên tai, hoả hoạn… nhưng nếu một nhà còn gạo ăn thì cả bản sẽ không bị đói. Các mối quan hệ láng giềng, huyết tộc, họ hàng, thông gia thường quyện chặt vào nhau, tạo nên sự cố kết bền vững giữa các thành viên trong làng bản và giữa các làng bản với nhau. Việc sử dụng đất đai và các sản phẩm của rừng núi, sông suối theo tập tục, không có sự tranh chấp. Săn được thú lớn thì cả bản cùng hưởng, khi nhà nào có việc mừng vui thì bản cùng dự, có việc buồn thì cả bản cùng chia sẻ. Các tộc người thiểu số ở Việt Nam còn có một truyền thống cực kỳ quý báu là dân chủ, tuy còn sơ khai và thuần phác, song là nét đẹp trong đời sống xã hội. Trong nhà, bố mẹ tôn trọng con cái, anh em hoà thuận. Ngoài làng, các thành viên bàn bạc công việc chung một cách dân chủ. Sau khi đã quyết định thì mọi người tự giác chấp hành quy định chung của bản làng. Chủ làng, tuy là người đứng đầu của buôn làng, nhưng chỉ quyết định sau khi đã bàn bạc dân chủ. Việc bầu cử hay bãi miễn các chức vụ trong làng bản được tiến hành một cách thực sự công khai, dân chủ. Hơn nữa, đồng bào cũng rất coi trọng dư luận. Họ coi đó là một công cụ quan trọng để mọi người điều chỉnh hành vi ứng xử với các cá nhân khác trong cộng đồng. Mặc dù nguồn gốc lịch sử, phong tục tập quán khác nhau, cư trú ở Việt Nam vào những thời điểm khác nhau, nhưng các tộc người đều có truyền thống đoàn kết, tương trợ để đấu tranh chống ngoại xâm, chinh phục thiên nhiên. Hơn nữa, mọi cư dân thuộc các tộc người ở Việt Nam đều ở một hoàn cảnh chịu sự tác động của các điều kiện lịch sử nên đã sớm có ý thức tự giác, chung sống trong một quốc gia dân tộc.

Truyền thống đoàn kết của các tộc người ở Việt Nam được hình thành dựa trên hai yếu tố cơ bản: Thứ nhất, Việt Nam ở vào khu vực địa lý có nhiều thuận lợi song kiều kiện tự nhiên cũng rất khắc nghiệt. Trước yêu cầu tồn tại và phát triển của một nước nông nghiệp trồng lúa nước, cư dân Việt xưa phải liên kết nhau lại, xây dựng các công trình thuỷ lợi (chống úng: đắp đê; chống hạn: đào mương…) nhằm bảo vệ cuộc sống và bảo đảm phát triển sản xuất lương thực. Thứ hai, lịch sử của dân tộc Việt Nam phản ánh một quy luật đặc thù là dựng nước gắn liền với giữ nước. Điều đó đòi hỏi phải có sự liên kết, hợp sức của cư dân cả nước với một cơ cấu Nhà nước trung ương tập quyền có khả năng xây dựng và quản lý các công trình thuỷ lợi, lãnh đạo nhân dân chiến đấu giữ vững nền độc lập dân tộc. Đoàn kết đã trở thành truyền thống tốt đẹp, chuẩn mực đạo đức là nhân tố quan trọng bậc nhất tạo nên sức mạnh của cộng đồng trước rất nhiều biến thiên của lịch sử.

Tuy nhiên, thiết chế xã hội của người thiểu số cũng có những hạn chế nhất định. Chủ nghĩa bình quân là đặc điểm nổi bật. Đứng trước thiên nhiên đa dạng và “đất còn rộng, người còn thưa”, người dân bản địa vùng miền núi nhìn chung đều “an phận thủ thường” trong điều kiện nền kinh tế tự cấp tự túc. Khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường họ cũng không hối hả, năng động như các vùng khác. Thiếu kiến thức thị trường và kinh doanh đã kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội của các tộc người. Khi đứng trước những xung đột lợi ích trong nội bộ cộng đồng các dân tộc, người dân bản địa vùng miền núi thường phản ứng lại một cách thụ động: hoặc nhường nhịn, hoặc co cụm, hoặc lùi xa để tự vệ và đến khi không thể lùi được nữa thì con đường tốt nhất mà họ lựa chọn là dời đi nơi khác. Sự phát triển chậm về xã hội dẫn đến tình trạng: tính chất dân chủ, nhân ái rất đáng quý của đồng bào các tộc người thiểu số chưa phải là dân chủ của một xã hội văn minh. Bản chất thuần phác, ý thức giai cấp và dân tộc chưa rõ rệt nên dễ bị kẻ thù lợi dụng. Sự giao lưu văn hóa giữa các vùng, các tộc người còn hạn hẹp, thiếu tri thức, thiếu thông tin nên trong chừng mực nhất định hạn chế dân chủ, vì thế không khuyến khích sáng tạo, độc lập suy nghĩ của cá nhân, có thể dẫn tới hành vi sai của cả tập thể hay cộng đồng.

Từ những vấn đề trên, đặt ra yêu cầu cần phát huy các yếu tố tích cực trong thiết chế xã hội truyền thống của các tộc người thiểu số. Một trong những biện pháp đó là phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng. Họ có thể là cán bộ xã, trưởng bản, già làng, thầy cúng... ở đây, chúng tôi đề cập tới hai đối tượng là già làng và thầy cúng.

- Già làng: Là người cao tuổi trong các tộc người, dòng họ, làng bản. Sống gương mẫu, có công trong việc hình thành và phát triển cộng đồng làng bản. Am hiểu việc làng, việc nước, phong tục tập quán, lễ nghi của dòng họ và của dân tộc mình hoặc các dân tộc cùng sống trong làng bản. Có khả năng và kinh nghiệm xử lý hài hòa, hiệu quả việc làng, việc nước, quan hệ dòng họ và các dân tộc. Được dân cư trong làng kính trọng, suy tôn là “Già làng” một cách tự nhiên, trên nguyên tắc tự nguyện.

Thực tế cho thấy, vai trò của Già làng được trọng thị chính từ sự hiểu biết và gương mẫu của họ. Bằng khả năng và kinh nghiệm, họ xử lý hài hòa giữa việc làng và việc nước, luật tục và luật pháp, việc dòng họ và tộc người; Họ biết thuyết phục và động viên, nói dân nghe, làm dân tin, dân phục và dân theo.

Như vậy, vai trò của Già làng thường xuyên có tác động quan trọng đến nhiều mặt của cuộc sống cộng đồng làng bản, giúp ổn định chính trị - xã hội để phát triển kinh tế - văn hoá, không chỉ với hiện tại mà còn lâu dài. Có một số việc làng bản, việc dòng họ và tộc người nếu không có già làng làm thì khó ai làm thay được. Đây chính là “cầu nối” rất tốt giữa Đảng và Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội với người dân, làm cho nhiều việc được giải quyết “thấu tình đạt lý”.

Thầy cúng: Trong giai đoạn hiện nay, thầy cúng vẫn còn có vai trò nhất định trong đời sống của các tộc người. Họ là những người bảo trợ tinh thần cho làng bản, là nhân vật có vị trí quan trọng trong những buổi cúng tế chung của cộng đồng, thậm chí trong việc hiếu, hỷ của gia đình như: đám ma, mừng nhà mới, mừng đầy cữ, đầy tháng cho trẻ nhỏ... Tại những buổi lễ lớn, thầy cúng truyền tải nguyện vọng của cộng đồng đến thần linh, xin thần linh xem xét và phù hộ cho dân làng khỏe mạnh, làng bản yên bình, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi... Ngoài ra, thầy cúng còn được coi là “thầy thuốc chữa bệnh”, là “nghệ sĩ dân gian” của dân bản. Với tư cách là “thầy thuốc chữa bệnh”, thầy cúng có phương thuốc chữa bệnh rất đặc biệt là đem đến cho con người “liều thuốc tinh thần” là chính. Thầy cúng thực hiện những hành động tín ngưỡng cụ thể để giải toả về mặt tâm lý nào đó cho người bệnh. Với tư cách là “nghệ sĩ dân gian”, thầy cúng thực sự là một nghệ sĩ đa tài được nhiều người hâm mộ và yêu mến. Thầy cúng không những biết đàn, biết hát mà còn biết múa những điệu dân vũ của tộc người. Như vậy, ở một góc độ nhất định, có thể nói rằng thầy cúng đã góp phần vào việc bảo tồn di sản văn hóa tộc người, đặc biệt là những di sản văn hóa phi vật thể. Do đó, cần phải nghiên cứu và “bóc tách các hành động và việc làm” của thầy cúng để xem đâu là việc đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng chính đáng của một bộ phận quần chúng và lưu giữ các giá trị văn hóa tộc người, đâu là hành động tuyên truyền mê tín dị đoan và lợi dụng sự u mê của người dân để trục lợi... Trên cơ sở đó có biện pháp quản lý và xử lý thích hợp.

Hiện nay, Việt Nam đã có một hệ thống pháp luật tương đối đồng bộ, nhưng do sự vận động không ngừng của cuộc sống nên pháp luật thường “lạc hậu” so với thực tiễn. Hơn nữa, là một quốc gia đa dân tộc, mỗi tộc người có trình độ phát triển kinh tế - xã hội và đặc điểm văn hóa riêng nên pháp luật khó bao quát hết mọi lĩnh vực của đời sống. Do vậy, luật tục vẫn có vai trò quan trọng trong đời sống tộc người. Vấn đề đặt ra là cần khai thác, phát huy để chính các giá trị đó góp phần chuyển tải luật, làm cho luật được “lệ hóa”, giúp các chính sách của Nhà nước thực sự được “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. ở đây, luật pháp phải hướng dẫn được luật tục và luật tục có thể chỉ cho chúng ta thấy những yêu cầu cần phải điều chỉnh của pháp luật. Như vậy, lệ làng và phép nước, luật tục và luật pháp sẽ hòa đồng trong một mục đích chung, một lý tưởng chung.

ở nước ta, xã và làng bản đều có chung vị trí vai trò của cấp cơ sở nhưng xã và làng, bản có chức năng, vị thế khác nhau. Xã là cấp cơ sở của quản lý hành chính nhà nước; làng, bản là một cộng đồng tự quản, không có chức trách, thẩm quyền quản lý, không phải là một cấp hành chính, không có tư cách pháp nhân, không có con dấu. Bộ máy của xã hình thành nên theo đạo luật của Nhà nước, do dân bầu nhưng theo phương thức dân chủ đại diện. Trong khi đó, ở làng bản, toàn dân, thực chất là toàn thể các chủ hộ dân trực tiếp bầu ra Trưởng bản (thôn). Đây là người đại diện cho tinh thần tự quản của dân, cùng với dân trong thôn tự quản lý công việc của mình. Đó là dân chủ trực tiếp.

Làng, bản tự quản theo sợi dây liên hệ giữa các chủ thể nhân cách: cá nhân - chủ thể - trưởng bản - trưởng họ, tuân thủ theo những điều khoản của hương ước, quy ước và pháp luật. Dư luận xã hội trong cộng đồng làng, bản là một sức mạnh điều chỉnh của tự quản cộng đồng. Tự quản còn có sức hỗ trợ của đạo đức, kinh tế, tâm lý, lối sống. Tự quản cung cấp cho quản lý những thông tin và kết quả để thúc đẩy quản lý tốt hơn, nhanh hơn và hiệu qủa hơn, đồng thời tự quản giám sát quản lý, tham gia vào quản lý.

TS. Vũ Trường Giang

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Vấn đề dân tộc và tôn giáo trên địa bàn Tây Nguyên (08/2011)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 61,901,094


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs