Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Yêu cầu và giải pháp phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số ở nước ta

 16/08/2011
Vấn đề con người luôn chiếm vị trí, vai trò hàng đầu trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia. Đảng ta đã xác định: việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực nói chung, nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số nói riêng đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước có ý nghĩa then chốt và cấp bách. Mặc dù nước ta đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số nhưng về cơ bản vẫn còn ở dạng tiềm năng và có khoảng cách khá xa so với yêu cầu. Để nhanh chóng phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số, theo tôi cần tập trung giải quyết một số yêu cầu về nội dung nhiệm vụ và giải pháp sau đây:

1. Những yêu cầu và nhiệm vụ:

Về chất lượng dân số:

Khi nói đến nguồn lực con người phải tính đến chất lượng dân số. Trong chiến lược phát triển dân số, ngoài việc thực hiện chính sách kế hoạch hoá gia đình, cần sớm đưa ra các giải pháp để nâng cao chất lượng dân số một cách toàn diện về thể chất, trí tuệ và tinh thần gắn với phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi vùng và mỗi dân tộc. Xoá bỏ tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống, tệ nạn nghiện hút, tập quán sinh hoạt lạc hậu, chống suy dinh dưỡng cho trẻ em, bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ phụ nữ… để đảm bảo duy trì, phát triển giống nòi theo hướng nâng cao chất lượng dân số và thể lực cho đồng bào; có chính sách đặc biệt đối với một số dân tộc có dân số ít (dưới 5.000 người).

Về điều kiện và môi trường phát triển nguồn nhân lực:

Vùng miền núi, dân tộc là khu vực giàu tiềm năng và có vị trí đặc biệt trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, song hiện đang còn rất nhiều khó khăn. Nhiều vấn đề như: giao thông, điện, thủy lợi, nước sạch, trường học, bệnh viện, vệ sinh môi trường, điều kiện sản xuất, thông tin, suy thoái môi trường... đang là những trở ngại trước yêu cầu công nghiệp hóa. Chính vì vậy việc giải bài toán phát triển nguồn nhân lực không thể thực hiện một cách đơn tuyến từng lĩnh vực mà điều quan trọng là phải tạo ra các điều kiện và cơ hội để phát triển con người một cách toàn diện cả về thể chất và tinh thần.

Về phát triển văn hoá:

Nước ta là cộng đồng đa văn hóa. Đảng ta đã xác định vai trò to lớn của văn hóa và chủ trương xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Để làm được điều đó phải không ngừng đưa các thành tựu văn hóa mới đến với nhân dân, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của từng dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Cần đa dạng hóa các loại hình thông tin, truyền thông để đồng bào các dân tộc thiểu số có điều kiện tiếp cận kịp thời các vấn đề thời sự, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật hiện đại.

Trong khi các giá trị văn hóa truyền thống đang bị bào mòn, môi trường sinh thái, nhân văn bị suy yếu thì đời sống văn hóa mới tại vùng đồng bào các dân tộc thiểu số còn nghèo nàn, các giá trị văn hóa mới chưa được các lập một cách vững chắc. Theo tài liệu điều tra, ở cả ba vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, trên 50% người được hỏi trả lời trong năm họ không được xem một buổi biểu diễn nghệ thuật nào. Tùy từng vùng nhưng tỷ lệ từ 70-94 % số người được hỏi trong một năm chưa từng tham quan một di tích lịch sử hay triển lãm nào. Đấy là chưa nói đến tỷ lệ hộ gia đình có nhà vệ sinh thấp (dưới 50%), tỷ lệ người không tham gia các đoàn thể xã hội cao nhất cả nước, trong khi đó dân số tăng cao và nhiều tác động gây hậu quả không tốt tới môi trờng văn hóa. Do đó cần đầu tư thích đáng cho việc phát triển văn hóa, phát huy các giá trị và từng bước loại trừ các phản giá trị để làm giàu văn hóa các dân tộc( nếu chỉ đầu tư cho hoạt động văn hóa thông tin cấp huyện ở 3 vùng trên đây khoảng từ 150-200 triệu đồng/năm, trong đó chi trả lương đã chiếm tới 70% thì khó mang lại hiệu quả đích thực).

Về giáo dục đào tạo:

Để phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số, công tác giáo dục đào tạo, nâng cao dân trí, gắn với các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng-an ninh có vị trí đặc biệt quan trọng. Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp cho công tác này như xóa mù chữ và chống tái mù chữ, thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, mở rộng và phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, trường dạy nghề, trường thanh niên dân tộc vừa học vừa làm, tạo điều kiện cho con em dân tộc được vào học tại các trường đại học, cao đẳng theo chế độ cử tuyển, thực hiện chính sách ưu đãi đối với giáo viên... Mặc dù vậy, công tác giáo dục-đào tạo còn nhiều bất cập. Do đó, trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực nói chung, nguồn nhân lực trình độ cao cần tạo bước đột phá về giáo dục phổ thông, trước hết là xóa mù chữ, chống tái mù chữ và tiếng phổ thông. Mô hình trường bán trú dân nuôi ở vùng cao cần được nhân rộng. Để làm được điều này phải có sự đầu tư chiều sâu cho lĩnh vực giáo dục-đào tạo.

Cần hiện thực hóa khẩu hiệu “trường ra trường, lớp ra lớp’’ ở vùng miền núi, dân tộc thiểu số. Thực thi vấn đề này không thể coi là thực hiện chính sách xã hội mà phải được xác định là thực hiện chính sách dân tộc - một vấn đề chiến lược của cách mạng.

Chú trọng chế độ đãi ngộ về tiền lương, phụ cấp đối với các thầy, cô giáo. Tăng cường chuẩn hoá giáo viên, tránh tình trạng giáo viên theo hệ 12+6 (tốt nghiệp lớp 12 và học thêm kỹ năng sư phạm 6 tháng). Với những trường hợp nhất định cần tính đến yếu tố song ngữ và hệ thống sách giáo khoa phù hợp.

Trong hệ thống giáo dục quốc dân cần nghiên cứu và xây dựng các loại hình nhà trường phù hợp với điều kiện cụ thể của con em các dân tộc thiểu số như mở hệ dự bị trong các trường đại học, cao đẳng và trong hoàn cảnh cụ thể có thể mở hệ này cả ở các trường trung cấp chuyên nghiệp, trường chính trị, lực lượng vũ trang... Hệ thống này đã được triển khai nhiều năm trước đây nhưng về sau chuyển nhiệm vụ sang trường dự bị đại học. Mô hình này cần được nghiên cứu tái lập lại và cần được xác định là nhiệm vụ của các trường đại học, cao đẳng (tất nhiên nhà nước phải có cơ chế riêng cho loại hình đào tạo này để các trường triển khai thực hiện). Nhân rộng hệ thống trường dân tộc nội trú từ bậc tiểu học, tiến tới mở các trường đại học cộng đồng, đại học nhân dân cho các vùng dân tộc thiểu số phù hợp với đặc điểm của từng vùng và từng khu vực. Để triển khai hiệu quả vấn đề này cần xác định rõ cung và cầu của nguồn nhân lực theo các ngành nghề, tránh đào tạo tràn lan và không tính đến các lĩnh vực cần có của vùng các dân tộc và thiểu số trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Trên cơ sở tính đặc thù, cần xác định nhu cầu nhân lực của từng vùng, từng dân tộc để xây dựng các loại hình và mô hình đào tạo theo hướng: đào tạo nguồn nhân lực cho bản thân con em người dân tộc thiểu số và con em người Kinh cư trú tại khu vực này, khuyến khích con em dân tộc Kinh từ vùng khác đến tham gia đào tạo để phục vụ trực tiếp cho khu vực này. Trước mắt cần đầu tư xây dựng và mở rộng hệ thống trường dạy nghề, mở rộng đối tượng được đào tạo theo hướng nhà nước và nhân dân cùng làm. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 267/2005/QĐ-TTg ngày 31/10/2005 về chính sách dạy nghề nhưng chỉ dành cho học sinh dân tộc nội trú. Trong khi đó, học sinh học ở các trường dân tộc nội trú chỉ chiếm khoảng 10% tổng số học sinh là người dân tộc thiểu số và theo ước tính cũng chỉ có khoảng 20% trong số đó được vào học tại các trường dạy nghề nội trú. Trên cơ sở đó có thể lựa chọn để tiếp tục đào tạo nguồn nhân lực ở trình độ cao theo các hình thức liên thông.

Cùng với việc nâng cao dân trí, phải từng bước phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và tầng lớp trí thức người dân tộc thiểu số-hạt nhân để phát triển nguồn nhân lực. Xây dựng tầng lớp trí thức chính là xây dựng đội ngũ tinh hoa cho các dân tộc thiểu số. Đây là điều kiện rất quan trọng để phát huy nội lực của các dân tộc, làm đầu tàu trong việc nâng cao dân trí, khơi dậy niềm tự hào dân tộc và thể hiện chính sách ưu việt của chế độ ta . Cần có chế độ, chính sách đặc thù đối với tầng lớp trí thức là người dân tộc thiểu số vì họ chính là người đại điện của dân tộc mình để giải quyết các vấn đề chính trị, kinh tế-xã hội nảy sinh tại địa phương do sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đặt ra.

Quản lý nguồn nhân lực:

Song song với đào tạo, việc quản lý và sử dụng nguồn nhân lực được đào tạo có vai trò và vị trí quan trọng. Tuy nhiên cũng phải tính đến yếu tố cung và cầu trong nguồn nhân lực. Cần làm rõ cơ chế, chính sách trong sử dụng nguồn nhân lực theo hướng không tách rời giữa đào tạo và sử dụng khi nhà nước đầu tư để phát triển nguồn nhân lực tại chỗ. Vấn đề đặt ra ở đây là đầu tư có kiểm soát, đầu tư có định hướng gắn với địa chỉ và nhu cầu sử dụng, đặc biệt là nguồn nhân lực có trình độ cao. Trên thực tế, chúng ta chưa có cơ chế, chính sách về vấn đề này và trong một thời gian dài đã buông lỏng công tác quản lý, sử dụng nguồn nhân lực trình độ cao. Liên quan đến vấn đề này, cần có định hướng về vấn đề sử dụng đối với nguồn nhân lực trình độ cao được đào tạo, hay nói cách khác là phải chỉ ra được đầu ra cho sản phẩm đào tạo. Cần phải xác định trách nhiệm và tình cảm của con em các dân tộc về tình yêu quê hương xứ sở, về yêu cầu phát triển của quê hương và dân tộc, về văn hóa và các giá trị truyền thống dân tộc trong việc học tập, nâng cao trình độ trước mắt cũng như lâu dài. Nếu coi nhẹ vấn đề này thì việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực trình độ cao sẽ gặp không ít hạn chế.

2. Một số giải pháp:

Để giải quyết và đáp ứng các yêu cầu và nhiệm vụ trên đây, chúng tôi đề xuất một số giải pháp chính:

Các giải pháp nhằm nhằm nâng cao thể lực và môi trường sống:

Giải pháp này gắn liền với những chủ trương, chiến lược phát triển kinh tế-xã hội như: làm tốt chương trình xóa đói giảm nghèo một cách căn bản và bền vững, từng bước cải thiện đời sống con người; thực hiện tốt các chính sách xã hội, bảo hiểm xã hội, đẩy mạnh công tác kế hoạch hóa gia đình, đẩy lùi các tệ nạn, tập quán lạc hậu; xây dựng nếp sống vệ sinh.

Tập trung mọi nguồn lực để giải quyết bền vững vấn đề định canh định cư, gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh; kiểm soát và điều chỉnh việc di cư tự do làm ảnh hưởng tới môi trường và quan hệ dân tộc, đảm bảo quyền lợi của dân sở tại, tránh những tác động tiêu cực từ cơ chế thị trường để đồng bào các dân tộc làm chủ và có đủ cơ hội để xây dựng và phát triển trên quê hương mình.

Nghiên cứu, xây dựng mô hình thiết chế văn hóa ở vùng dân tộc thiểu số, vận dụng quy chế văn hóa cơ sở cho phù hợp với đặc điểm của từng vùng dân tộc thiểu số, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, truyền thống và đổi mới.

Nhà nước thực hiện chính sách hỗ trợ về chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em trên cơ sở đặc thù từng vùng và từng dân tộc nhằm ngăn chặn nguy cơ suy thoái giống nòi (đầu tư cho hệ thống nhà trẻ, mẫu giáo về cơ sở vật chất, điều kiện nuôi dạy, đảm bảo chế độ dinh dưỡng).

Tạo điều kiện để trẻ em và thanh thiếu niên được hưởng thụ và phát triển trong môi trường văn hóa; đưa chương trình giáo dục môi trường vào nhà trường để học sinh sớm hình thành kỹ năng và nhận thức về vai trò của môi trường đối với sức khỏe con người, những yêu cầu về giữ gìn môi trường, tăng cường lòng tự hào về quê hương.

Các giải pháp về giáo dục đào tạo:

Nhằm tạo sự chuyển biến căn bản, nâng cao dân trí để sớm hình thành đội ngũ cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật và tầng lớp trí thức người dân tộc thiểu số đủ khả năng giải quyết những vấn đề phát triển kinh tế-xã hội đặt trên xứ sở của họ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bao gồm:

Nhanh chóng khắc phục hiện tượng thiếu trường, lớp và giáo viên các cấp học ở vùng dân tộc và miền núi để sớm đạt chuẩn về cơ sở vật chất và chất lượng giáo dục.
Phổ cập rộng rãi tiếng Việt. Tại một số vùng như Tây Nguyên phải kết hợp song ngữ và triển khai cho học sinh nói và viết tiếng Việt từ cấp tiểu học. Do đó phải xây dựng và đổi mới chương trình tiếng Việt phù hợp, tránh hiện tượng mù chữ, mù nghĩa tiếng phổ thông.

Mở rộng và nâng cao hiệu quả và chất lượng các trường dân tộc nội trú các cấp. Trước mắt có thể đáp ứng ít nhất 50% con em các dân tộc được tham gia hệ đào tạo này. Song song với việc mở rộng về quy mô phải chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo, tránh hiện tượng chạy đua thành tích và con số. Chính hệ thống các trường này là cơ sở để tạo nguồn đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao.

Mở rộng và phát triển hệ thống trường dạy nghề trên cơ sở căn cứ vào yêu cầu phát triển của từng vùng, từng dân tộc, khai thác thế mạnh của các địa phương và nhu cầu của nguồn nhân lực, tránh việc mở trường và đào tạo tràn lan không xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn.

Cải tiến chế độ cử tuyển vào các trường đại học,cao đẳng, đảm bảo đúng đối tượng, yêu cầu, mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của địa phương; đảm bảo các nhu cầu cần thiết để học sinh, sinh viên cử tuyển yên tâm học tập và làm việc sau đào tạo, có chế độ sử dụng thích hợp, tránh hiện tượng cử tuyển để phục vụ nguồn nhân lực cho các vùng khác. Cần nghiên cứu lại chế độ ưu tiên cộng điểm và miễn thi vào các trường cao đẳng, đại học và tuyển sinh sau đại học như hiện nay, từng bước kết hợp giữa ưu tiên với việc tạo điều kiện để con em các dân tộc thiểu số vươn tới trình độ đạt chuẩn chung.

Nhà nước cần có chính sách miễn học phí, cấp sách giáo khoa cho học sinh các dân tộc thiểu số trong hệ phổ thông, đồng thời hỗ trợ về sinh hoạt tại các trường dân tộc nội trú (trong đó chu cấp toàn bộ đối với học sinh vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn và các dân tộc có dân số dới 5000 người). Cần chấn chỉnh lại các trường dân tộc nội trú theo hướng chất lượng cao và mở rộng hệ dự bị đại học.

Trong quá trình đào tạo cần thường xuyên phát hiện tài năng trẻ, phát hiện sở trường, năng khiếu của học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số, tăng cường bồi dưỡng cho các em thực sự trở thành nhân tài của các dân tộc thiểu số. Đối với những người có khả năng phát triển nguồn nhân lực tinh hoa cần được tạo điều kiện thuận lợi nhất để phát huy tài năng sáng tạo.

Tạo nguồn để xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý lãnh đạo là người dân tộc thiểu số cả về tri thức khoa học và bản lĩnh chính trị; xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học và văn nghệ sĩ người dân tộc thiểu số; chú trọng tính cân đối về tộc người, khu vực.

Các giải pháp về chính sách:

Tăng cường vai trò và bổ sung nhiệm vụ đối với các cơ quan quản lý nhà nước, trước hết là ủy ban Dân tộc và Bộ Giáo dục-Đào tạo.

Thành lập Học viện dân tộc để đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho vùng dân tộc thiểu số. Học viện là cơ sở đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, đa cấp và là đầu tàu trong việc xây dựng các trường đào tạo tại các vùng và các địa phương. Học viện có chức năng đào tạo đại học, sau đại học để phát triển nguồn nhân lực trình độ cao cho các dân tộc thiểu số.

+ Thành lập Quỹ phát triển nguồn nhân lực hoặc Quỹ phát triển văn hóa và nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số, đầu mối là Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc ủy ban Dân tộc. Tạo điều kiện cho sinh viên, học viên các dân tộc thiểu số tham quan, học tập, trao đổi tại các cơ sở đào tạo tiên tiến ở nước ngoài.

+ Đầu tư phát triển các đại học vùng dân tộc thiểu số như Tây Bắc, Tây Nguyên theo cơ chế đặc thù để trở thành các đại học tiên tiến thuộc tốp cao trong nước. Trong quá trình tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực trình độ cao cho các dân tộc thiểu số có vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng. Nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã nói: “Tôi không đồng ý với việc ưu tiên con em các dân tộc thiểu số là hạ điểm chuẩn cho họ vào học đại học hay cao đẳng. Có thể ưu tiên cho họ về tuổi tác, về thời gian học kéo dài hơn, học 5 năm chưa đạt thì học 6 năm, 7 năm, ưu tiên cho họ về điều kiện sinh hoạt chứ không châm chước về trình độ. Kiến thức và học thức phải bình đẳng. Kỹ sư, cán bộ kỹ thuật phải đúng là cán bộ kỹ thuật. Con em các dân tộc thiểu số khi tốt nghiệp trở về địa bàn mình, khó khăn hơn nơi khác nhiều lần, thế cho nên lại cần phải giỏi, phải sâu sắc hơn”. Đó là sự gợi mở rất sâu sắc khi phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực trình độ cao đối với các dân tộc thiểu số nói riêng. Giải quyết tốt vấn đề trên cũng chính là giải quyết thành công vấn đề dân tộc, nhiệm vụ chiến lược của cách mạng nước ta trên cơ sở các nguyên tắc “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển”.

PGS.TS Lâm Bá Nam

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Thiết chế xã hội truyền thống của các tộc người thiểu số (08/2011)
  •  
  • Vấn đề dân tộc và tôn giáo trên địa bàn Tây Nguyên (08/2011)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 61,900,928


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs