Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Dân tộc Cơ Ho

 06/07/2011
Dân tộc Cơ Ho còn có tên gọi khác là Cơho, Kơho, K’Ho, Côhô,… Họ cư trú chủ yếu ở tỉnh Lâm Đồng và một số tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hoà, Đồng Nai… và có ba nhóm tộc người: Chin, Srê và Lạch. Tiếng Cơ Ho rất gần gũi với các ngôn ngữ Mnông, Stiêng, Mạ,... thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Ba Na dòng Môn - Khmer. Dân số khoảng 166.112 người.

Dân tộc Cơ Ho sống chủ yếu bằng trồng trọt nương rẫy, làm ruộng, chăn nuôi. Kinh tế rẫy của người Cơ Ho là du canh du cư hay xâm canh hoặc có thể là luân canh. Một đám rẫy chỉ canh tác trong một vài mùa, nếu sau đất còn màu mỡ thì làm thêm, thường vài ba năm lại đi tìm vùng đất mới để canh tác. Đất đai canh tác thuộc quyền sở hữu của làng, việc bố trí thêm đất canh tác cho những hộ bị thiếu đất là thuộc quyền của làng. Chủ làng vừa là chủ đất vừa là chủ rừng.

Trồng lúa nước được coi là hàng đầu. Ruộng của người Cơ Ho tập trung ở các thung lũng, ven suối và phụ thuộc vào thời tiết, nên chỉ canh tác một vụ trong năm. Và họ có hai loại ruộng, sự phân biệt này dựa vào địa thế của ruộng đó là loại nằm ở địa hình thấp, gần sông suối luôn luôn có nước; một loại khác nằm ở vị trí cao hơn, chỉ có nước khi mưa hoặc khi có nước lớn tháo vào. Kỹ thuật canh tác thời xa xưa là canh tác thủy nậu nghĩa là chọn vùng sình lầy để trồng lúa, suốt lúa bằng tay. Dần dần, các dụng cụ được cải tiến: cày gỗ, cuốc, chuyển lên cày sắt, dùng sức kéo của trâu và gặt lúa bằng liềm. Những kinh nghiệm xem thời tiết qua kỳ sinh trưởng của động vật được truyền lại từ thời kỳ làm rẫy, cách xem sao, kỹ thuật làm đất (cày ải, phơi ải), làm thủy lợi tưới tiêu thuận tiện, ngâm giống trước khi sạ, dùng phân bón,… đã chứng tỏ sự thuần thục của họ trong việc trồng lúa nước ở một trình độ nhất định.

Chăn nuôi cũng giữ một vai trò quan trọng trong đời sống của tộc người Cơ Ho giúp bổ sung thêm cho nền kinh tế trồng trọt. Người Cơ Ho chăn nuôi trâu, lợn, chó, dê, gà, vịt và sau này có bò. Trâu là gia súc đầu bảng trước đây, sau này trâu không chỉ để giết thịt trong những lễ hiến sinh, mà còn là sức kéo và vật định giá trong buôn bán. Trong khi đó bò được nuôi chỉ nhằm cung cấp thịt cho những bữa ăn và tiệc tùng thường nhật. Tất cả đều được thả rong trong một thời gian dài, mãi sau này do nhu cầu bảo vệ và sử dụng phân bón, người Cơ Ho đã biết xây cất chuồng trại. Ngoài nuôi lợn, bò trâu… người Cơ Ho còn nuôi ngựa và đây cũng là một đặc điểm của một số vùng.

Nghề chính của người Cơ Ho là rèn nhưng không mang tính chuyên nghiệp. Công việc này chỉ bắt đầu vào lúc gần phát rẫy để sửa sang dụng cụ. Thợ rèn gồm có 3 người: Thợ cả đập, một thợ phụ kéo bễ và một mài công cụ. Sản phẩm họ tự tạo gồm có xà gạc, dao nhỏ, rìu... Cùng với nghề rèn, nghề đan lát tre mây cũng được tiến hành song song do người đàn ông đảm nhận. Sản phẩm đan lát đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Điều đặc biệt là nghề đan lát trở thành chuẩn mực để đánh giá người con trai. Ngoài các nghề chính thì nghề dệt vải cũng được truyền dạy nhưng chỉ dừng ở mức độ không chuyên và chỉ làm trong thời gian rảnh rỗi, nghề này lại là chuẩn mực để đánh giá một cô giá khi chuẩn bị lấy chồng.

Nhà ở của người Cơ Ho có hai dạng: nhà sàn và nhà sạp. Nhà sàn thường là của gia đình giầu có và khá giả trong buôn. Nhà lợp tranh hai mái uốn, có vách phên nghiêng ra ngoài nẹp tranh để chống cái lạnh. Trước đây các nhà sàn thường được dựng cao hơn để phòng thú dữ, phía trước cửa thường có cầu thang rộng hoặc bằng một cầu thang buộc dây hay một cây gỗ có khắc bậc. Người nghèo do ít có điều kiện chuẩn bị nên hay làm nhà sàn thấp hoặc nhà trệt có vách hoặc hai mái úp xuống đất.

Trang phục của người Cơ Ho, đàn ông đóng một chiếc khố dài bằng ba sải tay, rộng hơn một gang, có hoa văn theo dải dọc, quấn vòng quanh bụng, luồn qua háng, để cho hai đầu khố qua phía trước và phía sau mông. Người phụ nữ mặc váy hở quấn quanh người một vòng và dắt cạp. Váy của họ thường màu đen bố cục hình dải màu trắng viền dọc tấm vải. Riêng chủ làng và thầy cúng đội khăn kheo.

Làng (bòn) là đơn vị cư trú của người Cơ Ho, giống như làng của người Việt. Đó là một vùng cư trú, vùng canh tác rẫy hoặc ruộng, một vùng tự nhiên mà họ vẫn thường khai thác và xa hơn nữa là khu rừng thiêng nơi trú ngụ của thần linh, nơi ít ai được đặt chân đến và là biên viễn xa nhất của thế giới thu nhỏ mà họ đang sống. Mỗi buôn đều có bộ máy tự quản riêng, đứng đầu trong bộ máy đó là chủ làng (kwang bòn) là người tài ba (cau jak: một người tài giỏi), nhưng quan trọng hơn là biết ăn nói, có tài hùng biện, biết kể chuyện hay và thông thạo lịch sử, phong tục, tập quán của dân tộc. Người được chọn làm kwang bòn đã được làng thử thách về mọi mặt, nên ít có trường hợp bãi miễn xảy ra.

Thầy cúng (cau gru) là người có quyền chi phối sinh hoạt tín ngưỡng. Ông ta là người trực tiếp giao tiếp với thần linh để hỏi về tính mệnh của người bệnh. Thầy phù thủy (cau gru cơnang) cũng là người biết được cặn kẽ các phong tục tập quán, các câu chuyện cổ... Thầy phù thủy, thầy cúng trở thành một lớp người quan trọng trong xã hội Cơ Ho.

Trong xã hội truyền thống của người Cơ Ho đã tồn tại hai hình thức gia đình theo chế độ mẫu hệ: gia đình lớn và gia đình nhỏ. Người phụ nữ chủ động trong hôn nhân, sau hôn lễ, người đàn ông về nhà vợ ở (nếu gặp trường hợp gia đình hiếm muộn thì người phụ nữ vẫn có thể ở nhà chồng), con cái theo họ mẹ, con gái là người thừa kế. Hôn nhân của người Cơ Ho dựa trên cơ sở sự ưng thuận giữa hai bên trai gái, cha mẹ không quyết định. Độ tuổi kết hôn của người Cơ Ho thường là 16 - 17 tuổi đối với nữ và 18 - 20 tuổi đối với nam.

Lúc mang thai, người phụ nữ kiêng thịt các loài khỉ, vượn, không ăn các con vật có mang bị chết, con đỏ, nhím, tê tê vì sợ sinh khó, không xách vật nặng, gùi phải mang sau lưng ngay ngắn, không đi trỉa giùm cho người khác, tóc không buộc vì sợ đẻ khó.

Lúc sinh người ta cữ 7 ngày, dấu hiệu là sợi chỉ xanh cột nơi cửa không cho khách lạ vào nhà, chỉ có anh em, bà con, họ hàng mới vào được. Trong trường hợp vô ý khách vào nhà thì chủ nhà phun nước vào người của khách. Ngày sau đó người mẹ có thể mang đứa bé đi làm.

Gia đình có đám tang thường được sự giúp đỡ của cả làng, làng tổ chức đánh chiêng và đưa người chết về nơi an nghỉ. Khi trong nhà có người chết, người nhà vào rừng hạ cây, lấy rìu khoét ruột để làm quan tài, việc chôn người chết là việc chung của dòng họ. Chủ nhà có thể nhờ bà con vào rừng chặt cây đóng quan tài và trang trí lên đó bằng hình vẽ sặc sỡ, người chết được bó vào cái chiếu có trang trí hoa văn trông rất đẹp (bêl bàng) và được đưa về nghĩa địa (liêng bồc) phía tây - phía mặt trời đi nghỉ sau một chu kỳ chiếu sáng. Ngôi mộ chung của dòng họ được đặt chung với nghĩa địa của làng, người chết đầu luôn luôn quay về hướng đông, chân quay về hướng tây.

Vốn văn học nghệ thuật dân gian Cơ Ho khá phong phú. Thơ ca đậm chất trữ tình và giàu nhạc tính. Một số vũ khúc cổ truyền thường được diễn trong các lễ hội. Các nhạc cụ truyền thống như bộ cồng chiêng gồm 6 chiếc, kèn ống bầu (Kơmbuat), đàn ống tre (Kơrla), trống (Sơgơr)... có khả năng hòa âm với lời ca hoặc độc tấu.

Không chỉ có phương thức sản xuất mang dấu ấn riêng biệt, dân tộc Cơ Ho còn có vốn văn hoá truyền thống phong phú và đặc sắc với phong tục, tập quán đặc trưng. Những yếu tố ấy đã khẳng định và góp phần tô đậm dấu ấn của dân tộc Cơ Ho trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Hoàng Đức

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Một số nghi lễ độc đáo của người Cơ Ho (07/2011)
  •  
  • Tỉnh Thừa Thiên Huế (07/2011)
  •  
  • Thực hiện công tác dân tộc ở tỉnh Thừa Thiên Huế (07/2011)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 61,899,525


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs