Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 06/07/2011
Những kết quả đạt được sau 5 năm thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo ở Bắc Kạn
Bắc Kạn là tỉnh miền núi đặc biệt khó khăn có 7 dân tộc anh em: Tày, Nùng, Kinh, Mông, Dao, Hoa, Sán Chay. Trình độ dân trí không đồng đều, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, vùng cao của tỉnh. Chính vì vậy trong 5 năm qua, công tác giảm nghèo của tỉnh được các cấp uỷ Đảng chính quyền từ tỉnh đến cơ sở đặc biệt quan tâm.

Trong giai đoạn 2006-2010, chương trình giảm nghèo của tỉnh đã được triển khai thực hiện thông qua nhiều dự án, chính sách như: đầu tư cơ sở hạ tầng cho các xã đặc biệt khó khăn theo Chương trình 135 giai đoạn II; chính sách hỗ trợ về y tế, mua và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo và người dân tộc thiểu số; cung cấp tín dụng ưu đãi; hỗ trợ sản xuất và phát triển ngành nghề; khuyến nông, khuyến lâm hướng dẫn cách làm ăn cho người nghèo; đào tạo cán bộ giảm nghèo, đặc biệt là triển khai thực hiện chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững tại hai huyện Ba Bể, Pác Nặm theo Nghị quyết 30a của Chính phủ.

Từ năm 2006 đến nay thực hiện chương trình mục tiêu giảm nghèo của tỉnh đã đạt được những kết quả rất tích cực. Về thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo trong 5 năm (2006 - 2010) Ngân hàng chính sách xã hội đã tiến hành cho hộ nghèo vay vốn với số tiền là 1.528.136 triệu đồng. Qua đó đã giúp cho 76.000 lao động có việc làm, tạo điều kiện cho 7.575 học sinh, sinh viên có tiền trang trải chi phí học tập; 1.049 người được đi lao động theo hợp đồng tại nước ngoài. Từ nguồn vốn này đã có 6.320 hộ vay vốn thoát nghèo, 30.562 hộ được cải thiện đời sống. Về chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số cũng được đặc biệt quan tâm. Đã thực hiện hỗ trợ đất sản xuất cho 2.356 hộ nghèo với số tiền 1.144,23 triệu đồng; hỗ trợ đất ở cho 294 hộ, nhà ở cho 8.341 hộ, kinh phí thực hiện là 83.808,8 triệu đồng từ các nguồn theo Quyết định 134 và Quyết định 167/QĐ-TTg của Chính phủ. Hỗ trợ nước sinh hoạt theo Quyết định 134 cho 12.480 hộ với tổng kinh phí 12.784,08 triệu đồng; hỗ trợ xây dựng được 109 công trình nước sinh hoạt tập trung với tổng kinh phí 34.032,26 triệu đồng. Các chính sách hỗ trợ về y tế, giáo dục cho hộ nghèo cũng được chỉ đạo thực hiện tốt, trong 5 năm có 1.097.859 điều kiện cho con em các dân tộc thiểu số, con hộ nghèo có cơ hội đến trường và giảm thiểu số học sinh bỏ học. Công tác dạy nghề cho người nghèo cũng được chú trọng, các nghành chức năng của tỉnh đã tổ chức được 87 lớp dạy nghề cho 2.590 lượt người nghèo, kinh phí 2.560 triệu đồng, với các nghề trồng nấm, làm chổi chít, sản xuất phân vi sinh, chăn nuôi, trồng trọt, thú y... qua chương trình này đã góp phần giúp người dân thay đổi nhận thức, tập quán canh tác, nâng cao kỹ năng tổ chức sản xuất nông nghiệp, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Ngoài ra, tỉnh còn đẩy mạnh.công tác khuyến nông, khuyến lâm cho người nghèo, hoạt động truyền thông về xóa đói giảm nghèo, đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ giảm nghèo. Về công tác khuyến nông, khuyến lâm có 8.429 lượt người được tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi, hướng dẫn kỹ thuật làm ô mẫu lúa lai, ngô lai, đậu tương, trồng cỏ; tập huấn hướng dẫn kỹ thuật vận hành máy móc, thiết bị nông nghiệp cho 1.694 hộ; tập huấn hướng dẫn kỹ thuật cung cấp miễn phí giống và các loại phân bón cho 100% hộ tham gia ô mẫu. Thông qua công tác khuyến nông khuyến lâm đã góp phần nâng cao nhận thức, nắm bắt kỹ thuật sản xuất và cây trồng vật nuôi cho hộ nghèo, qua đó giúp hộ nghèo mạnh dạn áp dụng tiến bộ khoa học-kỹ thuật vào sản xuất lựa chọn cây trồng, vật nuôi phù hợp từng bước tăng thu nhập, giảm nghèo bền vững. Về hoạt động truyền thông đã in và cấp được 65.000 tờ rơi tuyên truyền về nội dung chương trình giảm nghèo, tổ chức được 37 lớp truyền thông về công tác giảm nghèo cho 2.1 28 lượt hộ nghèo. Đã tổ chức tập huấn cho 4.465 lượt học viên là cán bộ cấp xã, các trưởng thôn bản và các cán bộ xóa đói giảm nghèo cấp xã.

Đặc biệt là thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ tại 2 huyện nghèo Ba Bể và Pác Nặm. Sau 2 năm thực hiện, đến cuối năm 2010, huyện Ba Bể đã giảm tỷ lệ nghèo từ 48,63% xuống còn 37,17%; cơ bản hoàn thành việc xóa nhà tạm cho hộ nghèo; 100% số xã đã có đường ô tô đến trung tâm xã thông suốt 4 mùa; tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo, tập huấn đạt 20%; 100% số xã tăng cường đủ số cán bộ và tri thức trẻ. Huyện Pác Nặm đã giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 56.15% xuống còn 37,12%; cơ bản hoàn thành việc xóa nhà tạm cho hộ nghèo; 90% số xã đã có đường ô tô đến trung tâm xã thông suốt 4 mùa; tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo, tập huấn đạt 5,52%; 100% số xã tăng cường đủ số cán bộ và tri thức trẻ.

Bên cạnh đó, từ nguồn kinh phí của chương trình giảm nghèo năm 2009 - 2010 các ngành chức năng của tỉnh đã nghiên cứu điều kiện thực tế của địa phương xây dựng mô hình giảm nghèo bền vững thông qua phát triển đàn trâu, bò sinh sản. Tổ chức được 8 lớp tập huấn hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi trâu, bò và đưa một số hộ đi thăm quan học tập kinh nghiệm chăn nuôi trâu bò tại tỉnh bạn. Trong 2 năm hỗ trợ cho 167 hộ nuôi, mỗi hộ 1 con trâu hoặc bò với tổng kinh phí 1.380 triệu đồng. Đến nay (tháng 3/2011) tổng số đàn trâu, bò này đã tăng lên 197 con (tăng 30 con). Đây là mô hình giảm nghèo hết sức thiết thực và phù hợp với điều kiện, trình độ cũng như phong tục tập quán của bà con các dân tộc thiểu số của tỉnh. Mô hình này đang được tiếp tục triển khai nhân rộng.

Từ những việc làm cụ thể và những kết quả đã đạt được trên cho thấy cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân ngày càng hoàn thiện, góp phần làm thay đổi bộ mặt của các xã nghèo, các xã đặc biệt khó khăn. Trình độ nhận thức, năng lực quản lý, điều hành của đội ngũ cán bộ cơ sở được nâng cao một bước. Người nghèo, hộ nghèo được hưởng các chính sách hỗ trợ của nhà nước, được tiếp cận các nguồn lực kinh tế (vốn, đất đai, công nghệ...) và các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục, pháp lý đã có thêm điều kiện để phát triển sản xuất ổn định đời sống, vươn lên thoát khỏi đói nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm đáng kể, từ 50,87% năm 2006 (31.141 hộ nghèo/61.217 hộ) xuống còn 17,60% vào cuối năm 2010 (12.354 hộ nghèo/70.197 hộ), bình quân mỗi năm giảm từ 7,5 đến 8% đạt được mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI đã đề ra. Toàn tỉnh có 13 xã thoát khỏi diện đặc biệt khó khăn (năm 2006 có 71 xã, đến cuối năm 2010 còn 58 xã).

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác giảm nghèo của tỉnh vẫn còn những khó khăn, hạn chế nhất định. Mặc dù tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh đã giảm đáng kể nhưng còn cao so với mặt bằng chung cả nước. Theo kết quả điều tra hộ nghèo theo tiêu chuẩn nghèo giai đoạn 2011 - 2015 (thời điểm cuối năm 2010), tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh chiếm 49,01% trong đó hộ nghèo chiếm 32,13% (22.551 hộ/70.197 hộ), hộ cận nghèo chiếm 16,8 8% (11848 hộ/70.197 hộ). Kết quả giảm nghèo chưa bền vững, nguy cơ tái nghèo cao.

Thực trạng đó xuất phát từ một số nguyên nhân như: Do địa hình của tỉnh chia cắt, cách xa các trung tâm kinh tế - văn hóa lớn, thời tiết không thuận lợi; số hộ nghèo chủ yếu là dân tộc thiểu số, địa bàn cư trú rộng, việc tiếp cận thông tin còn khó khăn, nhiều hộ thiếu đất sản xuất chưa chuyển đổi được nghề, thiếu việc làm, số lao động đã qua đào tào còn chiếm tỷ lệ thấp; một bộ phận người nghèo chưa thực sự quyết tâm vươn lên vượt qua ngưỡng nghèo đói. Bên cạnh đó nguồn nhân lực dành cho công tác giảm nghèo chưa đáp ứng được yêu cầu, quá trình tổ chức thực hiện lại bị phân tán, dàn trải; việc lồng ghép các chương trình phát triển kinh tế - xã hội với chương trình giảm nghèo chưa hiệu quả. Các giải pháp gắn kết việc thực hiện chính sách giảm nghèo với chính sách an sinh xã hội và phát triển nông thôn mới chưa thật sự đồng bộ. Việc phối hợp chỉ đạo thực hiện giữa các Sở, ngành, địa phương chưa chặt chẽ và hiệu quả. Cơ chế phân cấp, trao quyền cho địa phương, cơ sở nhằm tăng cường tính chủ động và sự tham gia của người dân chưa triệt để và chưa đi đôi với nâng cao năng lực, thiếu sự hỗ trợ kỹ thuật. Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế.

Qua đánh giá kết quả 5 năm thực hiện chương trình giảm nghèo 2006 - 2010, tỉnh Bắc Kạn đã quyết tâm thực hiện chương trình giảm nghèo từ nay đến năm 2015 với những mục tiêu cụ thể là: Giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo mới từ 32,1 3% năm 2011 xuống còn 7-8% vào năm 2015 (bình quân giảm 5% năm); giảm hộ cận nghèo từ 16,88% xuống còn 3-5% vào năm 2015 (bình quân mỗi năm giảm 3%). Mỗi năm giải quyết việc làm cho 6.000 lao động; tỷ lệ người lao động qua đào tạo nghề đạt 35%. 100% dân cư thành thị, 95% dân cư nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh. Đến năm 2015 phát triển đàn trâu, bò có 150.000 con, đàn lợn 210.000 con; bình quân lương thực đầu người 520kg/người/năm có 80% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế. Có 30% số xã thoát khỏi diện đặc biệt khó khăn. 30% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới. Cùng với sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị của tỉnh và sự hưởng ứng tích cực của nhân dân các dân tộc trong tỉnh tin tưởng rằng tỉnh Bắc Kạn sẽ thực hiện thắng lợi các mục tiêu giảm nghèo đã đề ra.

Lê Na

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,894,969


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs