Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 06/07/2011
Mường Nhé huyện đặc biệt khó khăn, nghèo nhất trong 62 huyện nghèo của cả nước
Trên bản đồ treo trong phòng của Trưởng ban Dân tộc tỉnh Điện Biên Lò Văn Thoạn, huyện Mường Nhé như một cánh tay vươn dài sang phía Tây. Đồng chí Trưởng ban giải thích: Màu vàng đậm là xã vùng III (vùng đặc biệt khó khăn), màu vàng nhạt là xã vùng II, còn màu xanh nhạt là xã vùng I. Huyện Mường Nhé được tô một màu vàng đậm. 16/16 xã của huyện là xã đặc biệt khó khăn.

Mường Nhé là huyện miền núi, nằm trên biên giới giữa Việt Nam với hai nước láng giềng là Trung Quốc và Lào (tuyến Việt Trung dài 41km, tuyến Việt-Lào dài 165km). Huyện được thành lập theo Nghị định 08/2002/NĐ-CP ngày 14/1/2002 trên cơ sở điều chỉnh địa giới hai huyện Mường Tè (tỉnh Lai Châu) và huyện Mường Lay (nay là huyện Mường Chà), tỉnh Điện Biên. Tổng diện tích tự nhiên của huyện gần 250.000ha, với 157 bản, điểm bản đều ở những nơi vùng sâu, vùng xa. Huyện có 10.559 hộ, bằng 57.021 khẩu của 11 dân tộc: Thái, Kinh, Mông, Hà Nhì, Khơ Mú, Si La, Xạ Phang, Dao, Sán Chỉ, Cống, Kháng. Mường Nhé hiện là huyện nghèo nhất trong 62 huyện nghèo của nước ta.
 
 Từ khi thành lập đến nay, Mường Nhé được thụ hưởng đầy đủ những chính sách, chương trình, dự án của Chính phủ dành cho địa bàn dân tộc, miền núi. Do 100% xã của huyện là xã đặc biệt khó khăn nên các xã được thụ hưởng Chương trình Phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa và biên giới (Chương trình 135) và các chính sách hỗ trợ đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt đối với các hộ nghèo dân tộc thiểu số, đời sống khó khăn theo Quyết định 134/2004/QĐ-TTg; Chương trình hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định 167/2008/QĐ-TTg cùng Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ di dân thực hiện định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số…
 
 Là huyện biên giới giáp với hai nước Lào và Trung Quốc, Mường Nhé có 11 xã biên giới (2 xã giáp Trung Quốc và 9 xã giáp Lào) thuộc diện thực hiện Quyết định 120/2007/QĐ-TTg và Quyết định 160/2007/QĐ-TTg về phát triển kinh tế xã hội tuyến biên giới Việt-Trung, Việt-Lào.
 
 Đặc biệt, từ khi có Nghị quyết 30a của Chính phủ về xóa đói giảm nghèo nhanh, bền vững tại 62 huyện nghèo trong cả nước, Mường Nhé được đầu tư một số chương trình, dự án chuyên biệt: Giao khoán, chăm sóc, bảo vệ rừng, trồng rừng sản xuất; Phát triển sản xuất nông nghiệp; Hỗ trợ xuất khẩu lao động… Chính phủ cũng đã phân công một số doanh nghiệp như: Tổng Công ty Hàng không Việt Nam, Tổng Công ty Thủy tinh và Gốm xây dựng, Tập đoàn Dầu khí quốc gia, Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam… hỗ trợ nguồn lực giúp huyện xóa đói giảm nghèo.
 
 Với sự quan tâm đầu tư của Đảng, Nhà nước, cùng sự nỗ lực, cố gắng vươn lên, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện Mường Nhé đã giành được những thành tựu to lớn. Kinh tế tăng trưởng ổn định với tốc độ bình quân 9,75%/năm. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật từng bước được hoàn thiện. Nếu như năm 2002, toàn huyện chỉ có 2 xã có đường ô tô đến trung tâm xã, nay 100% số xã đã có đường ô tô; 36,42% số bản có đường ô tô, đường dân sinh đến bản; 13 bản thuộc 7 xã được sử dụng điện lưới quốc gia. 70% hộ gia đình được cung cấp nước sinh hoạt. Lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế có bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Khi mới thành lập huyện, ngành giáo dục huyện chỉ có 6 trường tiểu học, 4 trường trung học cơ sở; đến nay đã có 54 đơn vị trường, 1.069 lớp với 20.212 học sinh. Về y tế, năm 2002, có 5 trạm y tế xã và 2 phòng khám khu vực, nay huyện đã có 1 Bệnh viện trung tâm, 3 phòng khám đa khoa khu vực và 16 trạm y tế xã, trong đó có 4 trạm đã đạt chuẩn quốc gia. 104/157 bản có y tế bản hoạt động.
 
 Là huyện miền núi, biên giới nơi cực Tây Tổ quốc, Mường Nhé hiện đang phải đối diện với những vấn đề rất riêng, rất đặc thù. Trong vòng 7 năm, từ 2002-2009, huyện liên tục biến động về tổ chức và bộ máy. Đã có 3 đợt tách, thành lập xã mới, nâng tổng số xã lúc thành lập huyện năm 2002 từ 6 xã lên 16 xã năm 2009. Huyện và các xã gặp rất nhiều khó khăn trong việc ổn định bộ máy tổ chức. Cán bộ xã mới, nhiều người điều động từ nơi khác đến nên chưa am hiểu địa bàn và không biết tiếng của đồng bào nên khó khăn trong chỉ đạo, tuyên truyền, vận động. Số cán bộ là người Mông so với dân số quá ít. Mường Nhé có tới 70% dân số là người Mông nhưng phần lớn là dân di cư tự do từ nơi khác đến, nhiều người chưa đăng ký hộ khẩu, chưa xác định rõ nguồn gốc nơi đi, vì thế chưa đủ cơ sở để bồi dưỡng, tạo nguồn cán bộ.
 
 Mường Nhé có tỷ lệ người di cư tự do vào địa bàn lớn, gây khó khăn trong công tác quản lý của chính quyền địa phương. Khi mới thành lập, huyện có 6 xã, 106 bản, 2 vạn dân. Đến nay, huyện có 16 xã, 153 bản và 6 vạn dân. Địa bàn người Mông di cư tự do đến huyện Mường Nhé là các khu rừng già, rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, vành đai biên giới Việt – Lào, xa dân sở tại, xa trung tâm xã. Đến nay, dân di cư tự do đã chiếm 3/4 dân số toàn huyện Mường Nhé.
 
 Dân di cư tự do ồ ạt vào địa bàn, lấy đất làm nương rẫy, trực tiếp tác động đến các khu rừng già, rừng đầu nguồn, kể cả khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái. Trật tự xã hội bị ảnh hưởng, các tệ nạn nghiện hút, buôn bán ma tuý, trộm cắp tài sản, tàng trữ vũ khí trái phép… gia tăng. Đi kèm là việc lợi dụng tôn giáo, tuyên truyền đạo trái pháp luật diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch đã lợi dụng trình độ dân trí thấp, đời sống khó khăn và sự cả tin của đồng bào trong âm mưu xưng vua của một số phần tử cầm đầu, làm mất ổn định chính trị trên địa bàn.
 
 Sự gia tăng dân số cơ học vào Mường Nhé do di dân tự do đã khiến đời sống của người dân thêm khó khăn, thiếu ổn định, không được tiếp cận và hưởng lợi từ các chính sách của Nhà nước, các dịch vụ xã hội như giáo dục, y tế đồng thời ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân sở tại, phá vỡ kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, tiềm ẩn nguy cơ làm mất ổn định chính trị xã hội, an ninh quốc phòng trên địa bàn huyện nói chung, khu vực biên giới nói riêng.
 
 Làm việc cùng Đoàn công tác, đồng chí Lò Văn Sung-Bí thư Đảng uỷ và các đồng chí lãnh đạo Uỷ ban Nhân dân xã Nậm Kè cho biết: Trong các ngày từ 30/4-6/5/2011, một số phần tử xấu dùng nhiều thủ đoạn kích động, lừa mị lôi kéo hàng nghìn đồng bào dân tộc Mông từ nhiều xã trong huyện và ở các địa phương khác như: Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái, Sơn La, Đắc Nông, Đắc Lắc… về bản Huổi Khon, xã Nậm Kè để chờ ngày chúa phán quyết (21/5) và xưng vua.
 
 Sự việc đáng tiếc trên đã được giải quyết. Những đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật sẽ được làm rõ. Huổi Khon đã trở lại yên bình.
 
 Qua sự việc này, Nậm Kè chúng tôi đã có bài học về trách nhiệm của cấp uỷ, chính quyền xã, của cán bộ thôn bản và các đơn vị chức năng như Công an, Biên phòng trong công tác quản lý địa bàn, quản lý nhân khẩu, hộ khẩu; trong tuyên truyền đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đến với đồng bào cũng như những giải pháp tích cực, phù hợp để đấu tranh với các hoạt động truyền đạo trái pháp luật. Đồng bào mình ai cũng yêu quê hương, đất nước, tin Đảng, tin Chính phủ. Vấn đề còn lại là trách nhiệm của cán bộ cơ sở.
 
 Trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016, xã Nậm Kè có 6 đơn vị bầu cử, 9 tổ bầu cử với tổng số 1.819 cử tri. Ngày bầu cử 22/5/2011, 1.819/1819 cử tri của xã đã tham gia thực hiện nghĩa vụ công dân, đạt tỷ lệ 100% (huyện Mường Nhé đạt tỷ lệ 99,34%). Ba yếu tố để đánh giá một cuộc bầu cử thành công đó là : tỷ lệ cử tri đi bầu cao; bầu đủ số lượng, không phải bầu lại, bầu thêm; an ninh trật tự được đảm bảo an toàn tuyệt đối. Cả ba yếu tố trên đều được thực hiện tốt ở Nậm Kè. Kết quả này hàm chứa trong đó tình cảm, trách nhiệm, niềm tin của đồng bào 6 dân tộc thiểu số sống trên địa bàn xã đối với sự lãnh đạo của Đảng, với sự nghiệp đổi mới của đất nước.
 Nậm Kè được thành lập tháng 3 năm 2006 trên cơ sở điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và dân số của xã Mường Toong. Nậm Kè có diện tích tự nhiên trên 15.329 ha, có 15,5 km đường biên giới giáp với nước bạn Lào anh em. Trên địa bàn xã có 9 bản, 6 dân tộc cùng sinh sống là Thái, Cống, Mông, Dao, Sán Chỉ, Kinh với 588 hộ, 3.566 nhân khẩu. Từ khi thành lập, cấp ủy, chính quyền xã xác định sắp xếp, ổn định dân di cư tự do là nhiệm vụ quan trọng. Xã đã tiến hành biện pháp gom dân lại để thành lập bản, quy hoạch khu sản xuất, khu chăn thả gia súc… Vận động nhân dân thay đổi tập quán sản xuất, thay vì phá rừng làm nương là nhận khoanh nuôi, bảo vệ rừng. Năm 2010, số tiền Nhà nước trả cho bà con trong xã để bảo vệ rừng lên tới gần 1 tỷ đồng, khiến bà con vùng giáp Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé rất phấn khởi. Với 100 ha lúa nước, trên 400 ha lúa nương, Nậm Kè còn được xác định là một trong những vùng sản xuất lúa gạo quan trọng của huyện Mường Nhé. Từ những thế mạnh đó, xã đã đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân các dân tộc đoàn kết, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tích cực lao động, sản xuất, xây dựng quê hương.
 
 Trưởng bản Huổi Khon Sùng A Kỷ cũng cho biết: Từ khi về định cư ở đây vào những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ trước, bà con dân bản chăm chỉ nuôi bò, trồng lúa, bảo vệ rừng. Cuộc sống của đồng bào ngày càng tốt lên, đã có đường ô tô đến tận bản, có hệ thống cung cấp nước sinh hoạt, có điểm trường, nhiều gia đình được sự hỗ trợ của Nhà nước đã làm được nhà lợp tôn vững chắc.
 
 Những đổi thay ở xã Nậm Kè, bản Huổi Khon sau hơn 5 năm thành lập là kết quả quan tâm đầu tư của Đảng, Nhà nước đối với địa phương. Tạo cơ sở thực tiễn để đồng bào các dân tộc yên tâm gắn bó, bám trụ với mảnh đất này.
 
 Phải khẳng định rằng: Những năm qua, nhiều giải pháp mang tính căn cơ đã được đưa ra nhằm giải những bài toán khó rất riêng như xây dựng đội ngũ cán bộ xã, bản, nhất là cán bộ người Mông phù hợp với tỷ lệ dân số; vấn đề sắp xếp, ổn định đời sống dân di cư tự do vào địa bàn; Là tăng cường trách nhiệm của cấp uỷ, chính quyền xã, của cán bộ thôn bản và các đơn vị chức năng như Công an, Biên phòng trong công tác quản lý địa bàn, tuyên truyền đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước trong đấu tranh với các hoạt động truyền đạo trái pháp luật…
 
 Tuy nhiên, hiệu quả của các giải pháp đó đang bị hạn chế rất nhiều bởi chính cơ chế đầu tư, quản lý nguồn lực; bởi những khó khăn nội tại huyện miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa, đất rộng, người thưa, của sự bất cập trong hệ thống chính trị cơ sở... đòi phải có sự nhìn nhận, đánh giá cụ thể, sâu sắc để có biện pháp tháo gỡ kịp thời, giúp Mường Nhé bước những bước đi hiệu quả trong tiến trình phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng trên địa bàn.

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,899,641


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs