Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 23/05/2011
Thực trạng nguồn trí thức người dân tộc thiểu số trong sự nghiệp đổi mới
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, có những dân tộc vốn sinh ra ngay từ thủa ban đầu dựng nước, lại có những dân tộc từ nơi khác di cư đến. Lịch sử nước ta là lịch sử các dân tộc anh em cùng chung lưng đấu cật, đoàn kết trong cuộc chiến dựng nước và giữ nước.

Trong quá trình lãnh đạo, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đào tạo, phát triển đội ngũ trí thức. Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã xác định rõ: “Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội”. Một bộ phận trí thức còn tham gia công tác lãnh đạo, quản lý đất nước. Trong đội ngũ trí thức Việt Nam ngày càng có nhiều người là dân tộc thiểu số.

Để thấy rõ thực trạng đội ngũ trí thức và kết quả của công tác đào tạo phát triển đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số của Đảng và Nhà nước, nhất là từ công cuộc đổi mới (năm 1986) đến nay, ở cấp địa phương và trung ương, xin dẫn ra một số thông tin tập hợp được như dưới đây để thấy thực trạng đào tạo trí thức người dân tộc thiểu số .

ở trường Đại học Tây Nguyên chúng ta thấy rõ việc đào tạo nguồn nhân lực là người dân tộc thiểu số được Đảng và Nhà nước ta luôn luôn chú trọng: Trường được thành lập ngày 11/11/1977, nghĩa là chỉ hai năm sau khi đất nước thống nhất. Từ đây, con em đồng bào các dân tộc thiểu số đã được Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để phấn đấu đạt trình độ đại học và sau đại học ngay trên quê hương mình. Sau 30 năm xây dựng và phát triển, Trường đã đào tạo được gần 12.000 kỹ sư, bác sĩ, giáo viên, cử nhân, trong đó có 1.600 người dân tộc thiểu số... So với năm 2002, kỷ niệm 25 năm thành lập trường, qui mô đào tạo đã tăng 2,5 lần; số ngành nghề đào tạo tăng 2 lần; học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số tăng 3 lần.

Vậy đội ngũ trí thức ở vùng này ra sao? Qua tổng hợp số liệu tại tỉnh Đắc Nông (là một phần của tỉnh Đắk Lắk trước đây), tình hình như sau:

Đắk Nông là tỉnh mới được thành lập từ 01/01/2004 trên cơ sở tách từ 6 huyện phía Nam của tỉnh Đắk Lắk, dân số 400.000 người với 31 dân tộc anh em sinh sống.

Theo thông tin mới nhất thì đến nay, đội ngũ trí thức tỉnh Đắk Nông có hơn 5.400 người, chiếm 2,6% trên tổng số lao động trong độ tuổi lao động toàn tỉnh. Trong đó trình độ đại học có 5.350 người, thạc sỹ 83 người, tiến sĩ 02 người; trí thức nữ chiếm 52%, trí thức là người dân tộc thiểu số chiếm 2,7%.

Như vậy, có thể nói là con em các dân tộc thiểu số được đào tạo trở thành trí thức chưa nhiều. Nhìn tổng thể, về số lượng thì không ít dân tộc thiểu số còn chưa có người tốt nghiệp đại học chứ đừng nói đến các bậc cao hơn. Đội ngũ này lại phân bố không đều, hay nói đúng hơn là nơi cần có thì chưa có hoặc nhưng chưa đủ.

Số lượng trí thức người dân tộc thiểu số ở nhiều lĩnh vực chuyên môn có thể đếm trên đầu ngón tay. Ngay tại một số đơn vị, tổ chức chuyên đi sâu nghiên cứu về các dân tộc thiểu số từ nhiều năm, không tuyển được người dân tộc thiểu số như Viện Dân tộc học và Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. Thật vậy, vào những năm đầu khi thành lập Viện Dân tộc học (1968) chỉ có trên dưới 20 cán bộ, thì đã có một số người là dân tộc thiểu số, có cả người miền núi phía Bắc, lại có cả các dân tộc ở Tây Nguyên (được gửi ra đào tạo rồi trưởng thành). Những năm đầu thập kỷ 90, Viện đã có biên chế tới 60 người, đến năm 1995 phòng Bảo tàng Dân tộc học trực thuộc Viện tách thành Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam có 18 cán bộ chuyển từ Viện sang Bảo tàng Dân tộc học, trong đó có một số người dân tộc thiểu số... ấy vậy mà cho tới nay, số cán bộ nghiên cứu là người dân tộc thiểu số ở hai đơn vị này cũng vẫn chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay, không vượt con số những năm đầu thành lập bao nhiêu.

Hoặc là ở Viện Ngôn ngữ học, có Phòng nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Khi mới thành lập (1968) đã có vài ba người dân tộc thiểu số, nhưng nhiều năm sau còn lại một người. Từ năm 2002 không còn nhà nghiên cứu là người dân tộc thiểu số.

ở các cơ sở đào tạo chuyên ngành có bề dày truyền thống như bộ môn Nhân học hay bộ môn Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam (trường Đại học Tổng hợp trước đây, Đại học Quốc gia Hà Nội hiện nay), cả giảng viên và sinh viên người dân tộc thiểu số cũng hết sức ít ỏi.

Trong khảo sát nghiên cứu của mình, Ngô Thị Phượng nêu rõ: “Dân tộc Kinh với 86% dân số, nhưng chiếm tới 96,74% số lượng trí thức khoa học xã hội và nhân văn cả nước, các dân tộc thiểu số với 14% dân số nhưng chỉ chiếm 3,26%. Điều này nêu lên thực trạng chung về sự phát triển chênh lệch… giữa dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số”.

Đề cao vai trò nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế xã hội, Hội thảo khoa học về đào tạo nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số ngày 09/1/2009 của Uỷ ban Dân tộc cũng đã xác nhận rằng: “Hiện nay nguồn nhân lực là người dân tộc thiểu số rất thiếu và yếu, để xây dựng đội ngũ nhân lực tốt thì phải tập trung thực hiện đào tạo tri thức, đào tạo nghề và đào tạo cán bộ. Hiện nay lực lượng lao động là người dân tộc thiểu số qua đào tạo chỉ chiếm dưới 10%, chênh lệch quá lớn so với bình quân cả nước”.

Như thế, có thể nói rằng đội ngũ trí thức là người dân tộc thiểu số, nhìn chung, vẫn luôn chiếm một tỉ lệ rất nhỏ. Đánh giá đội ngũ tri thức người dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay, chúng tôi cho rằng về số lượng thì còn thiếu mà về chất lượng thì còn yếu. Vậy đâu là nguyên nhân của thực trạng nêu trên?

Có thể nêu ra mấy nguyên nhân chủ quan và khách quan như sau:

Nguyên nhân chủ quan: Do bản thân người dân tộc thiểu số chưa ý thức hết được sự cần thiết hiện diện trong đội ngũ trí thức chung của dân tộc, nên không cảm thấy cần vươn lên, thậm chí có khi bỏ qua cả những cơ hội đào tạo thuận lợi mà Đảng và Nhà nước dành cho.

Do còn thụ động, trông chờ vào sự hỗ trợ giúp đỡ của Nhà nước và từ bên ngoài. Một số dân tộc thiểu số vẫn có thói quen thích sống gần nơi chốn rau cắt rốn, ngại xa gia đình, nên ngay tại các trường dân tộc nội trú là nơi tạo nguồn trí thức dân tộc thiểu số, ta vẫn thấy thiếu một số dân tộc thiểu số (mà đôi khi, để bù vào chỉ tiêu này, có thể vì thành tích số lượng, một số nơi đã không ngại ngần lấp đầy chỉ tiêu bằng những học sinh ngoài diện).
Cũng có thể là do hạn chế nhiều mặt nên học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số đạt kết quả học tập thường thấp hơn (nên khó được tiếp nhận, ngay từ đầu tuyển vào. Nhiều học sinh, sinh viên cử tuyển không có việc sau khi ra trường, gây tốn phí hảng tỷ đồng), rồi trong cuộc sống lại thiếu lanh lợi và nhạy bén, thường trực tính nên dễ mếch lòng. Vì thế, trong cơ chế thị trường cần hết sức năng động thì việc tuyển chọn người được xem là “xứng đáng” lại càng không dễ.

Bởi vậy, chúng ta cần hiểu rõ và thông cảm với những đặc tính vốn có của các dân tộc thiểu số, không chỉ dừng ở lời nói xã giao mỹ miều mà cần thực lòng giúp họ vượt qua khó khăn, đặc biệt là cần tạo được niềm tin và tránh những ứng xử thiếu nhân văn, thiếu khách quan và công bằng.

Nguyên nhân khách quan: Do chưa có chính sách tạo nguồn phù hợp với từng dân tộc và vùng miền.

Chúng tôi nghĩ rằng không hẳn cứ hạ điểm đầu vào là sẽ có một đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số xứng tầm. Không nên ưu tiên bằng hạ điểm chuẩn khi xét tuyển mà cần có một chính sách đặc biệt tạo thuận lợi để ươm những hạt giống tốt.

Do chính sách tài trợ cho các chương trình nghiên cứu về các dân tộc thiểu số được các cơ quan chức năng và một số tổ chức nước ngoài dành sự quan tâm đặc biệt nên từ nhiều năm nay, xuất hiện tư tưởng làm thay người dân tộc thiểu số, nhất là trong nghiên cứu khoa học. Thực tế cho thấy người dân tộc này vẫn có thể nghiên cứu tốt về (một nhóm) dân tộc khác một khi thực sự là chuyên gia, chứ không phải tiến hành nghiên cứu theo phong trào, thành “mùa vụ”, tranh thủ kinh phí xoá đói giảm nghèo.

Hội thảo của Uỷ ban Dân tộc về Đề án phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số đã đề cập đến nhiều bất cập, chồng chéo, song mới dừng ở mức kiến nghị cần xâu chuỗi các chính sách về phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số lại một đầu mối, rà soát nâng cấp chính sách đã có, bổ sung chính sách mới cho phù hợp với tình hình thực tế ở vùng dân tộc và miền núi.

Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là “Có chính sách ưu đãi cụ thể về lương, điều kiện làm việc, sinh hoạt... đối với trí thức làm việc ở vùng kinh tế, xã hội khó khăn, trí thức là người dân tộc thiểu số”.

Do vậy, giải pháp khả thi là nên dành điều kiện làm việc thuận lợi đặc biệt, một sự đãi ngộ tương xứng và thích đáng cho những trí thức dân tộc thiểu số đã có sản phẩm thật sự, có giá trị cụ thể, cho thấy đúng là chuyên gia, là thày thật chứ không phải “rởm”, để làm gương cho thế hệ trẻ vươn theo.

Việc chọn giải pháp thích hợp cần có cái nhìn sáng suốt từ nhà quản lý. Đối với những vùng khó khăn, cùng với đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất cần chú trọng, củng cố đội ngũ giáo viên với những ưu đãi vật chất xứng đáng để họ đào tạo nên những thế hệ mới “miền núi tiến kịp miền xuôi” thay vì chọn giải pháp “tặng điểm”, nghĩa là mặc nhiên bảo họ chấp nhận họ kém cỏi thay vì đòi hỏi họ phải giỏi lên. Làm như vậy hậu quả ra sao? Câu trả lời dành cho các nhà quản lý.

Thực trạng hiện nay cho thấy số lượng trí thức người dân tộc thiểu số đã mỏng lại phân tán, thiếu sự gắn kết tạo thành sức mạnh trong một đội ngũ chung liên ngành. Trong khi đó, vấn đề kinh tế - xã hội lại cần cách giải quyết liên/đa ngành, do phải đối diện với các hiện tượng trái chiều: phát triển kinh tế không khéo dẫn đến phá rừng, lũ lụt và ô nhiễm môi trường, rồi là tệ nạn xã hội.

Đã hơn nửa thế kỷ giành được độc lập và hơn hai mươi năm đổi mới, kết quả mới chỉ như vậy là quá chậm. Đành rằng việc xây dựng đội ngũ trí thức dân tộc thiểu số cần thực hiện theo công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ dân tộc từ địa phương đến Trung ương, nghĩa là phải đáp ứng được nhu cầu từng loại cán bộ trong từng thời kỳ theo mục tiêu, chiến lược cơ bản chung của cả nước. Đây không phải là một công việc dễ dàng ngày một, ngày hai. Việc sớm có thể “đào tạo, sử dụng cán bộ phải tương ứng với tỉ lệ dân số của từng dân tộc” mà không muốn hạ thấp tiêu chuẩn, đến mức coi thường cán bộ dân tộc, càng không dễ dàng.

Chúng tôi xin chia sẻ cùng nhận định về đội ngũ trí thức Việt Nam của Nguyễn Đắc Hưng khi tác giả cho rằng:

“Sự hạn chế, bất cập của đội ngũ trí thức chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự tụt hậu của nước ta hiện nay” và với đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số thì sự bất cập và hạn chế này chính là một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến cho đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số nhiều vùng ở nước ta vẫn còn cách xa mức sống trung bình của đất nước. Khẩu hiệu “miền núi tiến kịp miền xuôi” xem chừng còn xa mới thực hiện được nếu không có sự góp sức xứng tầm của đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số.

PGS.TS Vương Toàn

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 59,904,758


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs