Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 20/05/2011
Giải pháp nào cho giáo dục ở vùng sâu vùng xa
Dù được Nhà nước đầu tư rất nhiều về cơ sở vật chất nhưng vấn đề chất lượng học tập của học sinh vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn vẫn không được đảm bảo, tình trạng bỏ học giữa chừng còn rất phổ biến. Nguyên nhân gì dẫn đến tình trạng trên? Cần có giải pháp nào để các em tiếp tục đến lớp?

Ở những vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, tỉ lệ học sinh bỏ học khá lớn, đây là vấn đề nan giải đối với chính quyền địa phương và nhà trường. Điều này thể hiện rõ nhất ở sự chênh lệch sĩ số học sinh đầu năm và cuối năm. Khi tổng kết năm học, danh sách học sinh trong lớp giảm đi đáng kể. Đã có rất nhiều chính sách của Đảng và Nhà nước dành cho học sinh dân tộc thiểu số, học sinh ở các xã đặc biệt khó khăn, nhà trường và chính quyền địa phương cũng vào cuộc nhằm vận động học sinh tới trường, tuyên truyền cho phụ huynh về tầm quan trọng của việc học tập nhưng cũng không duy trì được sĩ số lớp. Trả lời cho vấn đề này, có thể thấy những nguyên nhân nổi cộm như sau:

Trước hết là do kinh tế kém phát triển. Vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn chính là những địa bàn có số lượng hộ nghèo cao nhất cả nước. Đa số người dân đều làm nông nghiệp, đời sống vô cùng khó khăn. Đảng và Nhà nước đã có Chương trình 135, ưu tiên đầu tư vào cơ sở hạ tầng, đảm bảo các công trình điện, đường, trường, trạm để phát triển kinh tế - xã hội. Nhờ đó, trên địa bàn các xã đặc biệt khó khăn, cuộc sống của đồng bào cũng có nhiều khởi sắc. Tuy nhiên, vẫn có nhiều vùng chưa được thụ hưởng đầu tư của Chương trình, đường đi còn khó khăn, nhà chưa có điện, xa trường học, xa trạm y tế. Việc giao lưu kinh tế, văn hoá gặp nhiều khó khăn. Cái nghèo tiếp tục đeo bám khiến việc học hành của các em gặp nhiều trở ngại. Do thiếu lao động, cha mẹ nhiều khi bắt con bỏ học ở nhà làm nương rẫy. Cho dù cán bộ có tới vận động, tuyên truyền và người dân có hiểu ra tầm quan trọng của học hành cũng rất khó thay đổi tình hình. Cái ăn, cái mặc còn chưa đủ thì cái chữ vẫn bị xếp vào hàng thứ yếu để ưu tiên cho những nhu cầu cấp bách trước mắt. Em Hò Thị Dẳm - học sinh Trường THCS Chế Là (xã Chế Là - Xín Mần - Hà Giang) là con một gia đình nghèo. Bố mất, em phải là lao động chính. Từ việc cày bừa, cấy hái đến việc kiếm thêm tiền bằng cách đi làm thuê cho xưởng chè đều do một vai em gánh vác. Bởi thế, em thường xuyên không đến lớp. Sau khi học xong cấp II, em bỏ học để đi làm nuôi các em ăn học. Những trường hợp như em Dẳm không phải là hiếm ở vùng sâu, vùng xa. Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Văn Hào, Hiệu trưởng Trường THCS Chế Là cho biết: “Toàn khối THCS có 7 lớp (hai lớp 6, hai lớp 7, hai lớp 8 và một lớp 9). Tình trạng đi học không đều vẫn tồn tại dù đã có nhà bán trú cho học sinh ở xa”. Ông cũng cho biết thêm: Các em ở bán trú được Nhà nước hỗ trợ 140 ngàn đồng/tháng. Tất cả học sinh còn được hỗ trợ sách vở, đồ dùng học tập nhưng cuối năm số lượng học sinh vẫn giảm.

Trong thời kì đổi mới, Đảng và Nhà nước đã ưu tiên số một đầu tư cho giáo dục. Tuy nhiên, dù đã có rất nhiều giải pháp để học sinh miền núi tới trường nhưng tình trạng nghỉ học thường xuyên, thậm chí là bỏ học vẫn tiếp diễn. Học sinh ở xa nhà đã có nhà bán trú, được tiền trợ cấp háng tháng nhưng điều này chỉ giải quyết được vấn đề ăn, ở cho các em. Với điều kiện thời tiết khắc nghiệt ở vùng cao, vào những ngày đông giá, nhiệt độ xuống rất thấp kèm theo mưa và sương mù, học sinh vẫn đến lớp với một manh áo cánh mỏng, đầu trần, chân đi đôi dép lê cũ. Đường đi cheo leo, dốc đá, sạt lở vào những ngày mưa lớn cũng khiến việc đến lớp của các em trở nên khó khăn. Con đường đến trường của học sinh xóm Lũng Rầy (Văn Thụ - Nam Tuấn - Hoà An - Cao Bằng) là một ví dụ. Các em học cấp II, cấp III ngoài thị trấn Nà Giàng phải đi bộ 5km đường đá tai mèo, vượt qua 3 quả đồi dốc mà khó một phương tiện cơ giới nào đi nổi. Hơn nữa, sự nghèo khó của gia đình khiến chính các em không thể thờ ơ, vừa phải làm việc, vừa phải đến trường là tình trạng chung của học sinh vùng sâu, vùng xa. Những thiếu thốn về vật chất chính là khối đá tảng cản bước các em trên con đường đến với ánh sáng của cái chữ.

Một lí do không kém phần quan trọng chính là sự hạn chế về ngôn ngữ. Tiếng phổ thông là ngôn ngữ chính thống được sử dụng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống. Ngôn ngữ chính là chìa khoá để mở cánh cửa tri thức, là điều kiện tiên quyết để hội nhập. Học sinh vùng sâu, vùng xa hầu hết là người dân tộc thiểu số, các em đã quen sử dụng ngôn ngữ, quen cách tư duy bằng tiếng dân tộc mình. Đến trường, các em mới được làm quen và học tiếng phổ thông. Đây là một trong những thiệt thòi của con em dân tộc thiểu số bởi nó ảnh hưởng không nhỏ đến việc tiếp thu kiến thức. Học sinh chưa sử dụng thành thạo tiếng phổ thông dẫn tới việc các em không hiểu hết ý nghĩa của lời nói, khó tiếp thu kiến thức vốn đã nặng về khái niệm. Tình trạng không hiểu bài khá phổ biến ở học sinh vùng sâu, vùng xa, ý thức tự học của các em không cao, phụ huynh chưa quan tâm, nhắc nhở con cái học bài và làm bài tập về nhà. Trong khi đó, chất lượng giáo viên ở vùng sâu, vùng xa cũng chưa đồng đều, nhiều giáo viên có trình độ chuyên môn thấp, kĩ năng truyền thụ thiếu hiệu quả… khiến chất lượng giáo dục không được đảm bảo.

Bên cạnh đó còn một nghịch lí trong giáo dục vùng sâu, vùng xa là những chỉ tiêu, kế hoạch mà Phòng Giáo dục đặt ra với các trường. Để duy trì sĩ số, giáo viên phải nỗ lực rất lớn trong vận động, khuyến khích các em đến lớp. Các em có đi học nhưng đọc không thông, viết không thạo, thậm chí nhiều em ngồi lớp 6 mà không biết nói tiếng phổ thông, có em học lớp 9 mà đọc không nổi một bài tập đọc. Vậy mà các Phòng Giáo dục vẫn đưa ra những chỉ tiêu khá cao để giáo viên phải hoàn thành. Việc chạy theo thành tích khiến giáo viên phải “chế” bài thi cho học sinh, coi thi chưa nghiêm túc. Ngồi nhầm lớp không chỉ là vấn đề nhức nhối của giáo dục miền xuôi mà còn của cả miền núi. Hậu quả lớn nhất vẫn là học sinh gánh chịu, nhiều em đi học nhưng không mở mang được tri thức, không hiểu bài, không có hứng thú trong học tập. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến học sinh không muốn đến trường.

Một nội dung đáng lưu tâm nữa đó là vấn đề bình đẳng giới và nạn tảo hôn ở vùng dân tộc thiểu số. Hiện nay, đa số học sinh nữ đã được đến trường nhưng không ít gia đình vẫn còn tồn tại tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, không cho con gái học hành đến nơi đến chốn. Học sinh nữ phải bỏ học giữa chừng để lao động cũng là vấn đề thách thức với giáo dục miền núi. Yêu cầu đặt ra là làm thế nào để các em cũng được học hành đầy đủ, được tạo điều kiện để học lên cao hơn. Vì hầu hết các em đều thích đi học, nhiều em có khả năng tiếp thu tốt, có khát khao thay đổi cuộc sống. Riêng vấn nạn tảo hôn tưởng chừng đã xoá bỏ hoàn toàn nhưng tại một số địa phương vẫn tồn tại tục lệ dựng vợ gả chồng cho con khi còn rất nhỏ. Nhiều học sinh Trường THCS Chế Là (Xín Mần - Hà Giang) đã có “vợ” hoặc “chồng” dù các em đang trong độ tuổi cắp sách tới trường. Hiện tượng này còn diễn ra cả trong gia đình cán bộ chính quyền xã.

Giáo dục là vấn đề được Nhà nước quan tâm hàng đầu, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn. Bởi đó chính là nền tảng vững chắc mang tính quyết định cho sự phát triển của đất nước. Đây cũng là một trong những nhiệm vụ đầu tiên mà Bác Hồ đặt ra ngay sau khi nước nhà giành được độc lập. Giáo dục phát triển mới nâng cao được trình độ nhận thức, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống, đoàn kết dân tộc mới vững bền, an ninh tổ quốc mới được đảm bảo. Để giải quyết thực trạng giáo dục ở vùng sâu, vùng xa cần có những giải pháp mang tính vĩ mô. Điều này hết sức kì vọng vào sự quan tâm chỉ đạo, tầm nhìn xa trông rộng, sự nhạy bén và sáng suốt của các cấp lãnh đạo, các cơ quan tham mưu trong việc hoạch định những chính sách cụ thể. Những chính sách cần bám sát với thực tế, phải dựa trên kết quả điều tra từ thực tế để quay trở lại phục vụ cuộc sống. ở góc độ cá nhân, chúng tôi cũng mạnh dạn đề xuất một số giải pháp như sau:

Trên hết, phải tập trung phát triển kinh tế vì đây là vấn đề quyết định hàng đầu. Một khi kinh tế còn là gánh nặng thì việc học tập của học sinh vẫn tiếp tục trì trệ. Cần tiếp tục mở đường, kéo điện vào những thôn bản xa để điều kiện đi lại, sinh hoạt của đồng bào được thuận lợi. Cần có những hoạch định về phát triển kinh tế cụ thể theo đặc điểm từng vùng, có những mô hình để người dân làm theo.

Phải có chính sách đầu tư cho giáo dục, tập trung giải quyết những nút thắt rất gốc rễ của chất lượng giáo dục, đó là việc học sinh dân tộc thiểu số “mù chữ phổ thông”, chưa đọc thông viết thạo tiếng Việt; là đầu tư cơ sở vật chất cho giáo dục để học sinh không phải ngồi trong những căn phòng tạm bợ, không phải học chay vì thiếu đồ dùng học tập. Đầu tư thêm phương tiện dạy học hiện đại cho giáo viên nhằm góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, giúp học sinh tiếp cận với những thiết bị học tập chất lượng cao.

Tiếp tục tuyên truyền, vận động về tầm quan trọng của giáo dục với đồng bào. Chính quyền địa phương và nhà trường cần bắt tay vào cuộc nhằm nâng cao nhận thức của người dân, đấu tranh xoá bỏ những hủ tục lạc hậu, thực hiện bình đẳng giới nói riêng, bình đẳng giữa các dân tộc nói chung. Bên cạnh đó, cần phải tuyên truyền cụ thể các chủ trương của Đảng và Nhà nước đến với người dân.

Vấn đề giáo dục vùng sâu, vùng xa không thể giải quyết trong một sớm một chiều mà đòi hỏi phải có sự chung tay của các ngành, các cấp từ Trung ương đến địa phương để đưa ra những giải pháp thực sự hiệu quả. Mới đây, Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ về công tác dân tộc đã đưa ra những quy định khá cụ thể, rõ ràng về chính sách phát triển giáo dục-đào tạo. Với những chỉ đạo cụ thể đó, hy vọng sự nghiệp giáo dục-đào tạo ở vùng sâu, vùng xa sẽ có điều kiện phát triển hơn nữa trong những năm tới.

ThS. Giàng Thị Sao

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,277,515


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs