Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 23/05/2011
Dân số và phân bố dân tộc thiểu số ở nước ta qua 3 kỳ tổng điều tra (1989 - 1999 - 2009)


Đồng chí Bế Trường Thành thăm gia đình Lo Viết Mãn, 75 tuổi một trong số rất ít người còn biết ngôn ngữ Ơ Đu - dân tộc ít người nhất nước ta.

Các dân tộc nước ta có truyền thống đoàn kết lâu đời trong sự nghiệp đấu tranh, xây dựng cộng đồng dân tộc thống nhất. trong mối quan hệ giữa các dân tộc ở nước ta thì đoàn kết thống nhất là đặc điểm nổi bật nhất, xuyên suốt mọi thời kỳ trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Các dân tộc sinh sống trên đất nước ta trong những giai đoạn khác nhau, nhưng đều có chung một vận mệnh lịch sử.

 Đoàn kết gắn bó là đảm bảo sự sống còn của từng dân tộc cũng như của cả cộng đồng các dân tộc trong quá trình phát triển. Sự liên kết các thành phần dân cư sớm có ý thức tự giác: cùng chung sống trong một đất nước ngay từ buổi bình minh của lịch sử đã tạo nên một cộng đồng quốc gia dân tộc bền vững. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, truyền thống đoàn kết giữa các dân tộc ngày càng được củng cố và phát triển, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã trở thành nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng.

Mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng trong tính thống nhất của nền văn hóa Việt Nam. Bản sắc văn hóa của các dân tộc được hình thành và phát triển gắn liền với lịch sử dân tộc, điều đó đã tạo nên những sắc phái văn hóa riêng của từng dân tộc. Sự thống nhất trong đa dạng là đặc điểm của nền văn hóa cộng đồng các dân tộc ở nước ta.

Hình thái cư trú phổ biến của các dân tộc ở nước ta là sống xen kẽ nhau. Xu hướng sống xen kẽ giữa các dân tộc ngày càng có chiều hướng gia tăng, điều đó tạo diều kiện thuận lợi để các dân tộc tăng cường quan hệ mọi mặt, tăng cường hiểu biết lẫn nhau cùng tiến bộ trong cuộc sống và phát triển sản xuất, mở rộng quan hệ giao lưu kinh tế - văn hóa giữa các dân tộc, cùng nhau thực hiện tốt các chủ trương. thính sánh của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Trình độ phát triển kinh tế-xã hội không đồng đều giữa các dân tộc hiện nay do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt ở địa bàn cư trú của một số dân tộc thiểu số. Nhiều dân tộc đã đạt được đến trình độ cao về phát triển kinh tế-xã hội, nhưng một số dân tộc vẫn còn ở trình độ phát triển rất thấp.

Các dân tộc ở nước ta có quy mô dân số và trình .độ phát triển kinh tế - xã hội không đều nhau, song đồng bào các dân tộc có truyền thống đoàn kết lâu đời trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, chế ngự thiên nhiên, khắc phục thiên tai và dựng xây đất nước.

Các dân tộc thiểu số cư trú trên địa bàn rộng lớn, phân tán trên mọi vùng miền của Tổ quốc. Cùng với sự tăng dân số chung của cả nước, dân số dân tộc thiểu số cũng tăng lên cả về số lượng và tỷ lệ trong tổng dân số.

Trong 20 năm (1989-2009) dân số nước ta tăng 21,5 triệu người, trong đó từ 1989-1999 tăng 11,9 triệu người và 1999-2009 tăng 9,6 triệu người.

Dân số dân tộc thiểu số so với tổng dân số năm 1989 là 13,2%, năm 1999 là 13,8% và năm 2009 là 14,27%. Sau 20 năm (1989 - 2009) dân số dân tộc thiểu số tăng 3,8 triệu người (trong đó 10 năm đầu tăng 2,1 triệu và 10 năm sau tăng 1,7 triệu).

Cơ cấu dân số dân tộc thiểu số tính theo số lượng: (l) trên một triệu người (2) dưới một triệu người (3) dưới một vạn người và (4) dưới một nghìn người cũng có thay đổi: năm 1989 chỉ có 2 dân tộc thiểu số (Tày, Thái) có số dân trên một triệu người, năm 1999 là 4 (Tày, Thái, Mường, Khmer) và năm 2009 là 5 (Tày, Thái, Mường, Khmer, Mông). Tương tự các cơ cấu khác như sau:

Dân tộc thiểu số dưới một triệu người: Năm 1989: 51; Năm 1999: 49; Năm 2009: 48

Dân tộc thiểu số dưới một vạn người: Năm 1989: 20; Năm 1999: 17; Năm 2009: 16.

Dân tộc thiểu số dưới một nghìn người: Năm 1989: 5; Năm 1999: 5; Năm 2009: 5.

Kết quả tổng điều tra dân số gần nhất (năm 2009) cho thấy: Năm dân tộc thiểu số trên một triệu người: Tày (l,62); Thái (l,55); Mường (l,27); Khmer (l,26); Mông (l,06). Năm dân tộc thiểu số dưới 1 nghìn người, tăng giảm qua 3 kỳ Tổng điều tra dân số: Si La (năm 1989 là 594, năm 1999 là 840 và năm 2009 là 709), tương tự Pu Péo (382, 705, 687), Rơ Măm (227, 352, 436), Brâu (231, 313, 397), Ơ Đu (32, 301, 376). Trong 48 dân tộc thiểu số dưới một triệu người có 34 dân tộc thiểu số dưới 10 vạn; 16 dân tộc thiểu số dưới một vạn và 5 dân tộc thiểu số dưới một nghìn người. Cũng theo kết quả Tổng điều tra dân số năm 2009 về tỷ lệ nam/nữ toàn quốc: Nữ nhiều hơn Nam (Nam 42,41 triệu; Nữ 43,43 triệu) nhưng trong một số dân tộc thiểu số có tỷ lệ ngược lại là nam nhiều hơn nữ: Mông (nam 537 nghìn, nữ 530 nghìn), Dao (377/373), Nùng (485/483), Sán Chay (85/83), La Hủ (4,9/4,7).

Đặc điểm cư trú xen kẽ và phân tán của các dân tộc thiểu số thể hiện trong phân bố dân cư (tỷ lệ dân tộc thiểu số so với tổng dân số năm 2009) trên các vùng miền trong cả nước. Cả nước có 14,27%. Trong đó: Miền núi, trung du phía Bắc là 54,68%. Tây Nguyên là 35,29%. Đồng bằng sông Cửu Long là 13,84%. Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung là 9,60%. Đông Nam bộ là 6,48%. Đồng bằng sông Hồng 1,54%

Trong 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có 7 tỉnh có tỷ lệ dân tộc thiểu số trên 80%: Cao Bằng (94,25%), Hà Giang (86,75%), Bắc Kạn (86,63%), Lạng Sơn (83,01%), Sơn La (82,39%), Lai Châu (82,02%) và Điện Biện (81,58%).

Có 12 tỉnh dân số dân tộc thiểu số trên 50% và tiếp theo trên 30% là 17 tỉnh, trên 20% là 20 tỉnh. Nếu tính theo tỷ lệ bình quân chung cả nước (dân tộc thiểu số /tổng dân số) là 14,27% thì có 25 tỉnh có tỷ lệ trên tỷ lệ bình quân này. Có 30 tỉnh có dân tộc thiểu số trên 10% dân số và 13 tỉnh dân tộc thiểu số dưới 1% dân số.

Cũng theo kết quả tổng điều tra dân số năm 2009, có 60/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tại thời điểm 1/4/2009 có từ 20/54 thành phần dân tộc trở lên, trong đó có 9 tỉnh, thành phố có từ 40 thành phần dân tộc trở lên: Thành phố Hồ Chí Minh (51), Đồng Nai (50), Hà Nội (49), Đắk Lăk (46), Thái Nguyên (45), Lâm Đồng (42). Kom Tum (41), Sơn La (40) và Thanh Hóa (40); Ba tỉnh có dưới 20 thành phần dân tộc: Vĩnh Long 19, Cà Mau 18 và Bạc Liêu 16; có 13 tỉnh có tỷ lệ dân tộc thiểu số dưới 1% dân số nhưng đều có trên 20 thành phần dân tộc có mặt tại thời điểm tổng điều tra dân số: Thái Bình 38 (0,13); Đà Nẵng 36 (0,46); Hà Tĩnh 30 (0,l8); Hải Phòng 29 (0,19); Hưng Yên 28 (0,13); Nam Định 27 (0,24); Hà Nam 26 (0,21); Bắc Ninh 26 (0,33), v.v.

Nghiên cứu đặc điểm thành phần dân tộc ở nước ta với quá trình phát triển dân số và phân bố dân cư là việc làm cần thiết, quan trọng làm cơ sở cho việc nghiên cứu tham mưu đề xuất các chính sách dân tộc cụ thể (Xác định mục tiêu, nội dung, đối tượng, địa bàn và qui mô đầu tư hỗ trợ thích hợp của các chương trình, dự án...), thực hiện có hiệu quả công tác dân tộc vì mục tiêu “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển” giữa các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

TS. Bế Trường Thành
 Phó Chủ nhiệm Thường trực UBDT

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,285,067


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs