Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Bảo tồn và phát huy tri thức truyền thống tộc người trong khai thác sử dụng, bảo vệ môi trường của các dân tộc thiểu số ở vùng cao phía Bắc

 28/03/2011

Trải qua thời gian, tri thức truyền thống tộc người thể hiện tập trung trên các lĩnh vực cụ thể như: Tri thức về sử dụng, bảo vệ và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, mà chủ yếu là rừng, đất đai và nguồn nước; tri thức trong sản xuất nông nghiệp; tri thức về các nghề thủ công truyền thống; tri thức về y học dân gian và chăm sóc sức khoẻ; tri thức về điều hành và quản lý xã hội.... Có thể phân chia làm 2 loại chính, gồm “tri thức kỹ thuật” (những hiểu biết kỹ thuật của người dân địa phương về thời tiết, kỹ thuật trồng trọt, chọn giống, vật nuôi, cây trồng) và “phong tục, tập quán” của địa phương (cưới xin, ma chay, bảo vệ, quản lý tài nguyên thiên nhiên địa phương, quản lý xã hội...). Mỗi loại tri thức thường phù hợp với văn hoá, môi trường sống của một cộng đồng cụ thể. Già làng, trưởng bản, thầy cúng, thầy mo, những người có uy tín trong địa phương, thợ thủ công lành nghề... là những người am hiểu vốn tri thức này của cộng đồng.

Tri thức truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao phía Bắc Việt Nam rất có ích dụng trong việc khai thác, sử dụng, bảo vệ môi trường. Vốn tri thức truyền thống về khai thác, sử dụng, bảo vệ môi trường của đồng bào đa dạng và được thể hiện trên các lĩnh vực như nhận biết về khí hậu, môi trường, kinh nghiệm canh tác trên đất nương rẫy, đất rừng. Đó còn là vốn kiến thức về khai thác, sử dụng, quản lý nguồn tài nguyên vô cùng quí giá đất, nước, rừng, môi trường sinh thái và đặc biệt là phương thức bảo vệ những yếu tố quí giá ấy bằng những qui định cụ thể của luật tục tộc người.

Nhìn từ góc độ tích cực, các phong tục, tập quán (còn gọi là luật tục) của đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao phía bắc nói riêng đã gắn kết mọi người trong bản làng thành cộng đồng chặt chẽ, có trật tự, kỷ cương, có truyền thống, có thuần phong mỹ tục của một cuộc sống con người hoà quyện với thiên nhiên, cá nhân gắn bó với cộng đồng, góp sức quan trọng trong việc quản lý và bảo vệ tốt tài nguyên môi trường, tiến tới phát triển bền vững. Mặc dù mỗi dân tộc thiểu số vùng cao phía bắc đều có phong tục tập quán riêng, nhưng điểm chung, ta tìm thấy ở trong các tập tục về bảo vệ môi trường, môi sinh của đồng bào là coi “nước” là “mẹ”, “rừng” là “thần”, “thú hoang” là “bạn”, cây có “linh hồn”. Xuất phát từ quan niệm như vậy, các cộng đồng dân tộc thiểu số đều có những qui định rõ ràng, nghiêm ngặt về bảo vệ nguồn nước, bảo vệ rừng, nhất là rừng đầu nguồn. Những luật tục về bảo vệ thú hoang, phương thức khai thác gỗ, lâm sản theo tiết, theo mùa có tác dụng bảo vệ sự cân bằng sinh thái môi trường để khai thác lâu dài. Về bảo vệ nguồn nước, luật tục của đồng bào đều có qui định bảo vệ cụ thể, ai làm tanh hôi nước sinh hoạt đều bị xử tội. Ai phá mương, tháo nước đều phải chịu hình phạt; đắp đê điều, xây dựng mương, đập là nhiệm vụ của người lao động. Với tài nguyên đất thì khuyến khích khai hoang đất rậm, nhưng phải tuân thủ nghiêm ngặt nội qui bảo vệ rừng cấm. Luật tục của đồng bào nêu rừ tri thức truyền thống về quản lý khai thác rừng như không chặt cây ở rừng đầu nguồn; với rừng lâm sản chỉ được khai thác theo mùa, không chặt phá cây non, không săn bắn thú vào mùa sinh sản. Nhiều tộc người còn qui định chặt một cây phải trồng lại một cây, lấy rễ cây phải chừa lại mảnh rễ... Luật tục coi việc xâm phạm, huỷ hoại tài nguyên, môi trường tự nhiên là xúc phạm đến các vị thần linh cai quản nguồn tài nguyên này. Chính vì vậy mà việc kiêng kị phá phách khu rừng đầu nguồn, chặt phá cây thần, giết hại các con vật tổ mang tính tự giác cao ở mỗi người. Cùng những qui ước về bảo vệ môi sinh, luật tục được “linh thiêng hoá”, “thần thánh hoá” của đồng bào có những đóng góp quan trọng cho vùng núi phát triển tương đối hài hoà, bền vững. Những tri thức kỹ thuật về khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên của các tộc người dân tộc thiểu số làm nên những giá trị văn hoá đặc sắc của họ. Trong luật tục bảo vệ môi sinh của mỗi tộc người bao giờ cũng chia làm hai phần: phần trách nhiệm và phần hình phạt. Trong đó, phần trách nhiệm là chủ yếu, phần hình phạt giống như những chế tài cụ thể chỉ gắn vào phía sau nếu vi phạm để củng cố thêm trách nhiệm. Những qui ước này, được dân chúng thực hiện tự giác. Ngày nay, những qui ước này tồn tại và luôn đồng hành cùng pháp luật. Vào dịp đầu năm, trong dịp hội làng, các qui ước được lưu truyền lại cho các thế hệ con cháu. Đây là nét đẹp văn hoá có tác dụng răn đe, giáo dục thế hệ trẻ, đồng thời còn là bản sắc riêng của cộng đồng văn hoá Việt Nam.

Song song với vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế-vón hoỏ-xã hội vùng cao phía bắc, trong thực tế, tri thức truyền thống còn bộc lộ những hạn chế nhất định. Lõu nay, với vốn tri thức kỹ thuật về canh nông ðồng bào các dân tộc thiểu số luôn phụ thuộc và dựa hẳn vào thiên nhiên, thuận theo tự nhiên ðó khiến đồng bào gặp trở ngại khi áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến, trong thâm canh, tăng vụ, trong chinh phục sự bất lợi của thiờn nhiên. Thói quen du canh, du cư, bỏ hoang nương rẫy của một số dân tộc vùng cao hiện nay đã không còn hợp thời khi quĩ đất có hạn, mà dân số ngày càng tóng. Điều này ðó và ðang gây trở ngại cho quản lý nhà nước về tài nguyên.

Mặc dù xuất hiện từ lâu, gắn với địa bàn sinh sống của từng tộc người, nhưng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, giao lưu văn hoá giữa các vùng, khi trình độ dân trí ngày càng nâng cao, vốn tri thức truyền thống đang đứng trước nguy cơ bị mai một, bởi những yếu tố sau:

- Trước hết, sự gia tăng dân số hiện nay ở miền núi mà chủ yếu là sự gia tăng cơ học, do sự chuyển dân từ miền xuôi không theo quy hoạch lên miền núi, do việc xây dựng các thị trấn, thị tứ, các công trình thuỷ lợi nhanh chóng đã phá vỡ môi trường sinh thái. Rừng phải lùi sâu vào trong, nhường chỗ sinh hoạt cho dân cư, cho ruộng vườn. Các phương thức sản xuất lâm nghiệp và nông nghiệp tiên tiến theo hướng tập trung vào độc canh nông sản hàng hoá, khiến cho tri thức truyền thống về xen canh, gối vụ, về đa dạng sinh học không còn hợp thời. Kinh nghiệm bản địa về lựa chọn giống cây trồng không còn được trân trọng như trước đây nữa mà khoa học kỹ thuật về lai tạo các giống lúa, cây trồng đã và đang dần thay thế.

ở vùng cao, các dân tộc thường cư trú đan xen với nhau, lại thêm mật độ dân số ngày càng tăng cao và do trình độ dân trí của người dân càng được nâng cao nên tri thức “thiêng hoá” về rừng, về nước của đồng bào ít nhiều bị suy giảm. Cuộc sống mưu sinh, nhu cầu làm giàu đã làm rừng đầu nguồn, rừng cấm bị chặt phá nghiêm trọng. Rừng mất, tri thức dân gian về rừng không còn. Rừng mất đồng nghĩa với sự tuyệt chủng của các loại cây thuốc quí, khiến các bài thuốc dân gian gia truyền bị thất truyền và có nguy cơ mai một.

Ngày nay, nhiều tri thức truyền thống bị mất do kết quả đổ vỡ của các kênh thông tin truyền thống vốn dựa vào sự truyền khẩu. Cả trẻ em và người lớn đều không còn dành nhiều thời gian cho hoạt động cộng đồng. Đồng bào ta hiện nay hay thay đổi chỗ ở hoặc sống xen kẽ với các tộc người khác, mà tri thức truyền thống vốn là tri thức của dân bản địa, chỉ đúng trong phạm vi địa lý dân tộc đó ở, cho nên khó phổ biến sang cộng đồng dân cư khác và không thể áp dụng được vào việc khai thác, quản lý tài nguyên môi trường ở những khu vực khác. Bên cạnh đó, thanh niên hiện nay - tầng lớp năng động của chính các tộc người đã và đang thu nhận các giá trị, lối sống khác biệt với giá trị, lối sống truyền thống của cha ông họ. Nhiều người trong số họ không còn quan tâm đến tri thức truyền thống nữa. Điều này đồng nghĩa với việc khó tồn tại của tri thức truyền thống trong mai sau nếu không được bảo tồn.

Trong quá khứ và ngay cả trong hiện tại, tri thức truyền thống ít được các nhà khoa học và các nhà lãnh đạo chính quyền thực sự quan tâm mà chỉ mô tả nó một cách sơ khai, đơn giản, tĩnh tại. Sự lãng quên có tính lịch sử này đã góp phần làm suy giảm hệ thống tri thức truyền thống, vì đã làm cho nó mất cơ hội sử dụng. Cùng với nhận thức chưa đúng là công tác tuyên truyền chưa đúng, chưa đủ về tri thức này. Coi tri thức này là cổ hủ, lạc hậu, không tin dùng mà chỉ nên tin vào khoa học hiện đại. Một số dân tộc quá ít người của chúng ta đang dần đánh mất vốn tri thức vốn có của mình, mà lệ thuộc vào các giải pháp của khoa học kỹ thuật hiện đại để giải quyết các vấn đề của địa phương mình.

Quán triệt mục tiêu về phát triển bền vững của Uỷ ban môi trường và phát triển thế giới (1987), ngay từ khi bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã luôn coi phát triển bền vững là hướng đi tất yếu của Việt Nam. Trong những năm đầu thế kỷ XXI, quan điểm phát triển của đất nước đã được thể hiện rõ trong Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ môi trường. Tiêu chí phát triển bền vững của Việt Nam là: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Và “phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học”. Và đó không phải là cái gì chung chung mà phải được thực hiện từ cấp địa phương, phát huy nội lực của mỗi địa phương, kết hợp với cơ chế tạo điều kiện của quốc gia và quốc tế. Luật “Bảo vệ môi trường” của chúng ta đi vào cuộc sống đã thu được những kết quả đáng kích lệ. Vấn đề đặt ra hiện nay là chúng ta phát triển, nhưng phải giữ gìn môi trường sinh thái và các giá trị văn hoá truyền thống, giải quyết tốt các vấn đề xã hội như thế nào? Và việc bảo tồn, phát huy những giá trị văn hoá truyền thống của 54 dân tộc anh em trong cộng đồng dân tộc Việt Nam được thực sự quan tâm. Với chính sách dân tộc nhất quán trên nguyên tắc: Đoàn kết, bình đẳng, tụn trọng và giỳp nhau cùng phát triển, qua các kỳ Đại hội, Đảng đều nhấn mạnh việc tạo điều kiện cần thiết để xoá bỏ dần sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế - văn hoá- xã hội giữa các dân tộc. Nhiều nghị quyết của Đảng đã nêu rõ: Đảng và Nhà nước cần có kế hoạch để phát triển kinh tế và văn hoá ở miền núi. Trong văn kiện Đại hội VIII, Đảng ta nhấn mạnh: “Vùng núi, trước hết là những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người cần được ưu tiên đầu tư, tạo điều kiện ban đầu để khai thác được lợi thế và nguồn lực tại chỗ”. Nghị quyết Trung ương lần thứ 5j25

khoá VIII của Đảng, khẳng định cần phải bảo tồn và phát huy những giá trị vốn có của các dân tộc thiểu số: “Coi trọng và bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống của các dân tộc thiểu số. Thực hiện tốt chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu số...”. Quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng, với chủ trương giảm dần khoảng cách phát triển miền núi và miền xuôi, Nhà nước Việt Nam đã cú nhiều chương trình, dự án cụ thể nhằm mục tiờu tập trung mọi nguồn lực để vùng dân tộc thiểu số, vùng núi phát triển bền vững, phát triển trên cơ sở vận dụng những yếu tố tích cực của tri thức dân gian.

Nhận thức được những giá trị trong nhiều lĩnh vực của tri thức truyền thống, nhất là trong vấn đề khai thác, sử dụng, bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững, trong những năm qua nhiều nhà khoa học đã lên tiếng kêu gọi bảo tồn tri thức truyền thống; “Việc bảo tồn các tri thức truyền thống ở qui mô quốc gia và quốc tế, đặc biệt là bảo hộ quyền SHTT đối với tri thức truyền thống được coi là công cụ có tiềm năng mạnh mẽ và hữu hiệu để đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển.”

Trước yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước và trước thực tế hiện nay là tri thức truyền thống trong khai thác, sử dụng, bảo vệ môi trường của các dân tộc thiểu số ở vùng cao phía Bắc đang bị mai một dần theo thời gian, khai thác trái phép ngoài phạm vi kiểm soát của cộng đồng nắm giữ tri thức. Trước hiện trạng do sự di chuyển dân không hợp lý, rừng bị tàn phá nghiêm trọng, động thực vật quí hiếm gần như tuyệt chủng; nguồn nước bị ô nhiễm do rác thải; thiếu nước canh tác do rừng đầu nguồn bị chặt phá, do hạn hán liên tục xảy ra; đất sản xuất bị bạc màu do bị rửa trôi, xói mòn... theo chúng tôi để bảo tồn và phát huy loại tri thức này, trong thời gian tới chúng ta cần tập trung vào một số nhóm giải pháp sau:

1. Nhóm giải pháp về xây dựng chính sách bảo tồn và phát huy tri thức truyền thống:

Để bảo tồn và phát huy tri thức truyền thống trong sử dụng, khai thác bảo vệ môi trường của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng cao phía Bắc, chúng tôi cho rằng Nhà nước cần phải có cơ chế, chính sách đầu tư để tăng cường công tác bảo vệ môi trường sinh thái ở miền núi, trước hết là tài nguyên đất, nước, rừng.

Nhà nước cần có chính sách ưu đãi hơn nữa về thuế, tín dụng, đất đai cho các thành phần kinh tế đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Bên cạnh những quy định chung, Nhà nước cần có những quy định riêng để khai thác tiềm năng thế mạnh đặc thù của từng vùng.

Bên cạnh chính sách ưu tiên về đầu tư, chính sách phát triển nguồn nhân lực cho đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc là chính sách chia sẻ lợi ích trong khai thác sử dụng nguồn tài nguyên, đất đai, rừng, phân phối công bằng lợi nhuận giữa Nhà nước, các đơn vị kinh tế và người dân miền núi. Nên chăng dành một phần chi phí, thuế tài nguyên, lợi nhuận của các dự án sản xuất từ tài nguyên miền núi đầu tư trở lại cải thiện đời sống cho đồng bào, để đồng bào ổn định cuộc sống, hạn chế du canh, du cư nhằm hạn chế chặt phá rừng bừa bãi làm nương rẫy.

2. Nhóm giải pháp về tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong cộng đồng về tầm quan trọng của tri thức truyền thống trong sử dụng, khai thác, bảo vệ môi trường của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng cao phía Bắc:

Suy thoái tài nguyên thiên nhiên không chỉ đơn thuần là do phát triển kinh tế, thương mại hay do áp lực của dân số và ô nhiễm môi trường mà còn là vấn đề phức tạp liên quan đến lối sống của con người, hay nói cách khác là văn hoá truyền thống của cộng đồng bản địa, do vậy, Đảng, Nhà nước cần có chính sách tuyên truyền nâng cao nhận thức về giữ gìn và phát huy vốn văn hoá truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số.

Trong tư duy của nhiều nhà khoa học, của nhiều người, thậm chí là của đồng bào dân tộc thiểu số cũn coi tri thức truyền thống là lạc hậu, không có cơ sở khoa học đáng tin cậy. Hơn nữa lại được truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác hoặc mang tính chất bí truyền trong dòng họ,... thanh niên thời nay không mấy thiết tha với loại tri thức đó, nên càng ngày tri thức truyền thống càng có nguy cơ mai một dần. Vì thế, trong thời gian trước mắt, công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vai trò của loại tri thức này trong ðồng bào cỏc dân tộc thiểu số, trong cộng đồng có ý nghĩa vô cùng to lớn.

3. Nhóm giải pháp về phát triển giáo dục, nâng cao nhận thức:

Tri thức truyền thống trong đó có các luật tục về sử dụng, bảo vệ tài nguyên môi trường thường chỉ được các già làng, trưởng bản, những người có uy tín trong cộng đồng truyền lại cho cả bản, mường biết vào kỳ gặp mặt cả bản đầu năm. Trước thực tế tri thức này đang có nguy cơ bị mai một vì lớp trẻ trong cộng đồng tộc người ít có thời gian quan tâm đến, do đó bên cạnh công tác tuyên truyền, làm cho mọi người trong cộng đồng thấy được vai trò, vị trí của tri thức truyền thống, các cấp chính quyền cơ sở nên phối hợp với các tổ chức đoàn thể như Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội người cao tuổi, Hội nông dân... qua các buổi sinh hoạt cộng đồng truyền dạy cho các thế hệ kế tiếp. Những kinh nghiệm về khai thác và sử dụng, bảo vệ tài nguyên môi trường này nếu được lưu truyền dưới dạng thơ ca, hò vè lại càng dễ thuộc và lâu quên. Để lưu giữ được những giá trị văn hoá này, nhà nước cần dành một số kinh phí nhất định, để các nhà khoa học, các nghệ nhân dân gian sưu tầm và tập hợp lại trong những ấn phẩm cụ thể, truyền lại cho mai sau. Chúng ta cần tuyên truyền, giáo dục, vận động tạo những điều kiện thuận lợi để loại tri thức này phát huy trong đời sống thực tế. Chỉ có như thế thì kinh nghiệm quí báu của đồng bào trong lao động, giữ gìn sinh thái môi sinh mới phát huy được thế mạnh.

Song song với việc truyền dạy tri thức truyền thống dưới các hình thức của văn học dân gian là việc tạo những điều kiện thuận lợi để người dân của các tộc người, đặc biệt là lớp trẻ không ngừng nâng cao dân trí, hiểu biết pháp luật, tự giác thực hiện pháp luật của Nhà nước về bảo vệ môi trường sinh sống. Lối sống có văn hoá, những luật tục tốt đẹp, những tri thức truyền thống ích dụng kết hợp với ý thức chấp hành pháp luật tự giác của người dân sẽ đem lại kết quả bảo vệ tài nguyên thiên nhiên to lớn.

Giải quyết đói nghèo gắn với bảo vệ môi trường thiên nhiên ở miền núi và ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là ở vùng cao phía bắc Việt Nam đang là vấn đề vừa cơ bản, lâu dài, vừa cấp thiết. Một điều tất nhiên là việc phát triển bền vững trên địa bàn này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó yếu tố nội lực của đồng bào đóng vai trò quan trọng. Do đó phát huy và bảo tồn những giá trị văn hoá truyền thống, tri thức truyền thống trên mọi lĩnh vực, kết hợp mặt tiến bộ của tri thức này với tri thức khoa học hiện đại, dưới sự quản lý bằng pháp luật của nhà nước là yêu cầu tất yếu của phát triển bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao phía Bắc.

Vũ Thị Thanh Minh

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Nhiệm vụ và giải pháp bảo tồn, phát triển các dân tộc Mảng, La Hủ, Cống, Cờ Lao (03/2011)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 59,890,398


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs