Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Nhiệm vụ và giải pháp bảo tồn, phát triển các dân tộc Mảng, La Hủ, Cống, Cờ Lao

 25/03/2011
Đề án được thực hiện trên phạm vi 88 thôn, bản thuộc 27 xã có dân tộc Mảng, La Hủ, Cống, Cờ Lao sống tập trung, thuộc 3 tỉnh Lai Châu, Điện Biên, và Hà Giang.

Thời gian thực hiện từ năm 2011 - 2020, chia làm 2 giai đoạn. Giai đoạn I (từ 2011 - 2015): Tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc về đời sống người dân, tạo tiền đề cơ bản về hạ tầng kinh tế, xã hội cho phát triển. Giai đoạn II (từ 2016 - 2020): Tiếp tục củng cố và xác lập sự thay đổi về lượng và chất trong đời sống xã hội cộng đồng, đào tạo phát triển nguồn nhân lực, bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống.

Quan điểm chủ đạo trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện Đề án:

Bảo tồn và phát triển kinh tế - xã hội các dân tộc Mảng, La Hủ, Cống, Cờ Lao là nhiệm vụ cấp bách và quan trọng thể hiện đường lối nhất quán, sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước đối với chính sách dân tộc, nhất là đối với các dân tộc ít người còn đặc biệt khó khăn, góp phần củng cố đoàn kết các dân tộc, bảo vệ an ninh biên giới và môi trường sinh thái.

Việc bảo tồn và phát triển kinh tế - xã hội bốn dân tộc phải đồng bộ, toàn diện và bền vững trên các lĩnh vực đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội. Vừa kết hợp các giải pháp trước mắt để ổn định và từng bước cải thiện đời sống của đồng bào, vừa tạo lập tiền đề cho phát triển giai đoạn tiếp theo. Đặc biệt chú trọng xây dựng nguồn nhân lực, hệ thống chính trị cơ sở, bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống.

Chính sách và biện pháp thực hiện mang tính đặc thù để phù hợp với đặc điểm tình hình, điều kiện thực tế, tâm lý và tập quán dân tộc. Thực hiện đầu tư, hỗ trợ có hiệu quả, mang tính can thiệp tích cực nhằm đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, tạo cơ hội cho việc tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản vừa tạo lập sự thay đổi trong tư tưởng và ý thức của người dân.

Việc bảo tồn và phát triển kinh tế, xã hội bốn dân tộc với quan điểm đầu tư là chủ đạo, đảm bảo đủ nguồn lực đáp ứng nhu cầu phát triển. Huy động nguồn lực tổng hợp trên cơ sở lồng ghép các chương trình, chính sách đang và sẽ thực hiện trên địa bàn, sự đóng góp, hỗ trợ của các tổ chức, doanh nghiệp và sự nỗ lực của chính người dân.

Đây là một nhiệm vụ chính trị quan trọng, đòi hỏi sự kiên trì, quyết tâm cao và sự tham gia vào cuộc, phối hợp chặt chẽ của các ngành và cả hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương, theo sự chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương. Đặc biệt là vai trò và sự tham gia của lực lượng Bộ đội biên phòng, đội ngũ giáo viên và lực lượng thanh niên, trí thức trẻ tình nguyện.

Mục tiêu tổng quát đến năm 2020:

Tập trung đầu tư, hỗ trợ để “Bảo tồn và phát triển kinh tế, xã hội các dân tộc Mảng, La Hủ, Cống, Cờ Lao”, nhằm nhanh chóng ổn định và cải thiện đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của người dân, phấn đấu đến năm 2020 phát triển cơ bản ngang bằng với các dân tộc khác trong khu vực. Đồng thời, khôi phục, bảo tồn và phát triển bản sắc văn hoá truyền thống, góp phần giữ vững chủ quyền biên giới quốc gia và bảo vệ môi trường sinh thái.

Các nhiệm vụ và giải pháp thực hiện:

Quy hoạch sắp xếp ổn định dân cư, qui hoạch phát triển sản xuất trên cơ sở các nguồn lực của vùng:

Rà soát qui hoạch, thực hiện sắp xếp lại dân cư: nhất là khu vực đặc biệt khó khăn về giao thông, thiếu nước sản xuất, sinh hoạt, những nơi có nguy cơ sạt lở cao, trong tầm ảnh hưởng của lũ ống, lũ quét. Qui hoạch, mở rộng mặt bằng ở những điểm dân cư, thôn bản quá chật trội, độ dốc lớn, gắn với việc bố trí sắp xếp lại nhà ở công trình vệ sinh, chuồng trại, vườn, công trình cấp nước, đảm bảo các điều kiện về sản xuất đời sống và văn hóa truyền thống của đồng bào.

Quy hoạch theo vùng, trong đó ưu tiên phát triển ruộng nước ở những khu vực có điều kiện về nước, đất sản xuất để đảm bảo an ninh lương thực tại chỗ cho đồng bào. Phát triển cây dược liệu, cây bản địa có khả năng cho thu nhập ở những khu vực vùng cao giáp biên giới. Phát triển chăn nuôi ở những khu vực núi đá, không có đất sản xuất, với các loại vật nuôi phù hợp. Phát triển kinh tế rừng ở khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn và những nơi có rừng và đất rừng. Thực hiện quy hoạch phát triển hệ thống hạ tầng cơ sở phục vụ phát triển kinh tế, xã hội vùng đồng bào 4 dân tộc. Đặc biệt chú ý đến hiệu quả của các công trình, khả năng tiếp cận và sử dụng của đồng bào với các công trình đó, tính phù hợp với văn hóa, tập quán từng dân tộc.

Đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội cho vùng đồng bào 4 dân tộc:

Về giao thông: Đầu tư hệ thống giao thông đến trung tâm xã đảm bảo đi được các mùa trong năm. Nâng cấp những tuyến đường đã có, mở mới đường đến trung tâm xã, gắn với các tuyến đường biên giới, đảm bảo quy mô giao thông nông thôn loại A trở lên. Tập trung giải quyết giao thông đến thôn, bản đảm bảo xe cơ giới đi được các mùa trong năm, tận dụng các tuyến đường đã có, sửa chữa, nâng cấp thêm. Những thôn, bản chưa có đường thì thực hiện đầu tư mới. Quy mô đường dân sinh (nơi có điều kiện thuận lợi đầu tư theo quy mô đường nông thôn loại B, hoặc bê tông hoá).

Về điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất: Những nơi có điện lưới quốc gia, cần đầu tư các trạm biến áp và kéo dây đến các hộ dân. Những nơi không có điện lưới, hoặc khó thi công hệ thống truyền dẫn, nếu có nguồn nước thì đầu tư các công trình thủy điện nhỏ, những địa điểm còn lại nghiên cứu các hình thức phù hợp như điện mặt trời...

Về thuỷ lợi và công trình cấp nước sinh hoạt: Xây dựng, sửa chữa, nâng cấp các công trình hiện có theo hướng kiên cố hoá, nâng cao năng lực tưới. Đầu tư mới các công trình thuỷ lợi ở những khu vực có khả năng khai hoang để mở rộng diện tích đất sản xuất. Thực hiện mô hình lồng ghép giữa thuỷ lợi gắn với cấp nước sinh hoạt. Đầu tư mới các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung ở các bản có nguồn nước đảm bảo, sửa chữa các công trình xuống cấp. Đối với khu vực dân cư sống phân tán, thực hiện hỗ trợ các dụng cụ chứa nước mưa, đảm bảo cho dân có đủ nước dùng trong cả mùa khô.

Cơ sở vật chất cho giáo dục, y tế, văn hóa: Thực hiện quy hoạch và đầu tư đồng bộ hệ thống trường, lớp học ở trung tâm xã và thôn, bản gồm nhà, lớp học, nhà ở bán trú cho học sinh và nhà công vụ cho giáo viên đáp ứng nhu cầu dạy và học. ở những nơi có điều kiện, xây dựng điểm trường có đủ cơ sở vật chất và các công trình phụ trợ (thư viện, phòng máy tính...) để nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh. Xây dựng mới đối với các xã chưa có trạm y tế đạt chuẩn, nâng cấp trạm y tế của các xã đang có, đầu tư các nhà công vụ cho cán bộ y tế xã. Chú ý đầu tư cho y tế thôn, bản kèm theo cung cấp trang thiết bị phục vụ y tế đảm bảo theo đúng tiêu chuẩn của Bộ Y tế ban hành. Đầu tư xây dựng nhà sinh hoạt cộng đồng cho tất cả các thôn, bản của 4 dân tộc, đồng thời hỗ trợ các trang thiết bị phù hợp với văn hóa truyền thống của từng dân tộc để phục vụ sinh hoạt cộng đồng.

Hỗ trợ hộ gia đình đảm bảo các điều kiện, nhu cầu thiết yếu của đời sống và các điều kiện để phát triển sản xuất:

Thực hiện hỗ trợ trực tiếp cho các hộ gia đình: về lương thực, nhà ở, điện sinh hoạt, nhà vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi để người dân từng bước ổn định và cải thiện cuộc sống. Hoàn thành hỗ trợ làm nhà ở cải thiện điều kiện nơi ăn, ở cho các hộ nghèo, các hộ trong tình trạng nhà tạm, bảo đảm an cư, xây nhà vệ sinh kết hợp chuồng trại, xử lý chất thải cho các hộ chưa có công trình vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi.

Giải quyết vấn đề về đất sản xuất và giao khoán bảo vệ rừng: Tận dụng tối đa những nơi có khả năng phát triển ruộng nước để khai hoang tạo quỹ đất, nâng định mức hỗ trợ khai hoang so với hiện tại, nhất là trong chuyển nhượng đất giữa các hộ dân. Tập trung đầu tư thủy lợi để đảm bảo nước tưới, tăng diện tích ruộng có khả năng sản xuất 2 vụ. Một số nơi có quỹ đất lâm nghiệp, có rừng cần thực hiện tốt giao đất giao rừng cho đồng bào, thực hiện thu hồi đất từ các nông, lâm trường để giao cho hộ và cộng đồng quản lý, chăm sóc, bảo vệ và khai thác theo quy định. Chuyển đổi canh tác nương rẫy sang trồng rừng.

Nâng cao kiến thức, trình độ năng lực sản xuất cho đồng bào: Trước hết cần tổ chức có hiệu quả hoạt động khuyến nông - khuyến lâm. Nội dung tập huấn tập trung về kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, kiến thức phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng, vật nuôi, trình độ tay nghề... Kết hợp đào tạo dài ngày với tập huấn ngắn ngày, hình thức chủ yếu là cầm tay, chỉ việc, làm mẫu. Tăng cường đội ngũ cán bộ kỹ thuật hướng dẫn người dân cách làm ăn nhằm tạo cho người dân ý thức sản xuất, biết áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất từ thực tế. Cán bộ phải có trình độ, tâm huyết với vùng đồng bào, hiểu được phong tục tập quán và có thể giao tiếp với đồng bào (ưu tiên cán bộ là người bản địa). Đồng thời cần có sự hỗ trợ xứng đáng cho cán bộ tăng cường cho phù hợp.

Hỗ trợ trực tiếp sản xuất cho hộ gia đình gắn với việc xây dựng các mô hình hướng dẫn sản xuất: Cùng với các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm cần hỗ trợ các hộ dân về giống cây trồng, vật nuôi, vật tư sản xuất. Hỗ trợ các loại nông cụ phù hợp, dựa vào nhu cầu và điều kiện thực tế của từng hộ, mức hỗ trợ phải đảm bảo 100% về giá và cước vận chuyển.

Nghiên cứu, đánh giá và tìm ra các mô hình sản xuất tương thích với từng vùng để hướng dẫn trực tiếp nhân dân. Mô hình này phải có sự tham gia của người dân (người sản xuất khá, người có uy tín, các hộ nghèo) và cán bộ kỹ thuật. Các mô hình này là địa điểm để người dân đến tham quan học tập. Xây dựng các mô hình về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp; mô hình về phát triển kinh tế rừng; mô hình áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất...để người dân làm quen với cách thức sản xuất mới.

Tập trung giải quyết các khó khăn, bất cập về văn hóa - xã hội:

Về giáo dục: Có chính sách đặc thù và phù hợp cho học sinh 4 dân tộc đi học theo hướng, cấp học bổng và toàn bộ chi phí ăn, ở từ bậc học mầm non đến khi học hết bậc chuyên nghiệp, tăng số lượng học sinh dân tộc nội trú, số lượng học sinh phổ thông trung học đặc biệt đối với dân tộc Mảng, La Hủ; gắn đào tạo với tuyển dụng các em sau khi tốt nghiệp vào làm việc tại địa phương. Nhanh chóng lựa chọn, cử tuyển những học sinh có khả năng đi đào tạo các trường sư phạm, y tế để tạo nguồn.

Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên vùng 4 dân tộc để đạt chuẩn về trình độ, chuyên môn theo quy định, kể cả cho đội ngũ giáo viên mầm non, đối với những giáo viên chưa đáp ứng yêu cầu về trình độ cần được đào tạo, bồi dưỡng thêm chuyên môn; tăng cường giáo viên là người dân tộc tại chỗ. Có chế độ ưu đãi đặc biệt đối với cán bộ giáo viên tham gia công tác tại vùng, nhất là ở thôn, bản để động viên, khuyến khích họ yên tâm công tác, tận tụy gắn bó với trường, lớp và học sinh. Với những nơi giáo viên không nói được tiếng dân tộc tại chỗ thì trước mắt thực hiện mô hình cán bộ địa phương trợ giảng cho giáo viên ở các điểm trường để tăng hiệu quả chất lượng dạy và học.

Tổ chức các lớp học dạy tiếng phổ thông ở các thôn, bản, kết hợp mở các lớp xóa mù chữ cho người ngoài độ tuổi đến trường theo qui mô thôn, bản, học trong vòng 6 tháng. Hỗ trợ kinh phí cho giáo viên học và tổ chức các lớp dạy tiếng Việt và tiếng của 4 dân tộc. Hỗ trợ thanh niên, học sinh học nghề để tăng chất lượng số lượng nguồn nhân lực trước mắt cũng như lâu dài. Xây dựng bộ công cụ hỗ trợ kỹ năng học tiếng Việt cho các trường (học sinh mầm non, tiểu học), các xã bản (các lớp xóa mù và học tiếng phổ thông) để nâng cao hiệu quả dạy và học.

Về y tế và chăm sóc sức khoẻ cho người dân: Triển khai có hiệu quả các chương trình, dự án, chính sách về y tế như: phòng chống sốt rét; tiêm chủng mở rộng cho trẻ em dưới 1 tuổi; chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình; chương trình nâng cao chất lượng dân số; phòng chống suy dinh dưỡng; các chương trình phong, lao, da liễu, bướu cổ; cấp thẻ bảo hiểm y tế; cấp phát thuốc cho người nghèo; tăng cường dinh dưỡng cho bà mẹ mang thai và trẻ em dưới 5 tuổi nhằm hạn chế tỷ lệ suy dinh dưỡng, nâng cao chất lượng dân số... và một số chương trình mục tiêu y tế khác...

Đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ y tế xã, thôn, bản là người tại chỗ đảm bảo đủ trình độ, năng lực chuyên môn để khám chữa bệnh ban đầu cho nhân dân. Thực hiện tăng cường có thời hạn và có chính sách ưu đãi khuyến khích cán bộ y tế làm việc tại vùng 4 dân tộc.

Tổ chức tuyên truyền vận động nhân dân làm tốt công tác vệ sinh phòng chống dịch và chăm sóc sức khoẻ. Giáo dục truyền thông nhằm nâng cao hiểu biết và kỹ năng về cách phòng chống bệnh, tác hại của hôn nhân cận huyết, tảo hôn, bài trừ hủ tục lạc hậu. Đẩy mạnh việc thực hiện chương trình quân dân y kết hợp. Tuyên truyền về sức khoẻ sinh sản cho các đối tượng.

Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, nâng cao đời sống tinh thần cho đồng bào: Có chính sách hỗ trợ, ưu tiên đặc biệt đối với cán bộ làm công tác văn hoá thôn, bản gắn quyền lợi với nghĩa vụ để phát huy hết năng lực, sở trường của đội ngũ này. Tôn vinh các nghệ nhân, khen thưởng các hạt nhân, những người có đóng góp tích cực, tiêu biểu trong hoạt động văn nghệ quần chúng ở cơ sở, vùng 4 dân tộc; động viên, khích lệ để họ cống hiến hết mình vì cộng đồng.

Xã hội hoá các hoạt động văn hoá, huy động các nguồn lực để xây dựng các thiết chế văn hoá cơ sở. Thường xuyên tổ chức các hoạt động đưa thông tin về cơ sở, các hoạt động giao lưu văn nghệ, thể thao, lễ hội truyền thống của 4 dân tộc nhằm giữ gìn bản sắc văn hoá, tăng cơ hội cho hôn nhân ngoại tộc để giảm hôn nhân cận huyết. Đẩy mạnh giao lưu kinh tế, văn hoá với các dân tộc khác trong vùng để tăng tính thích ứng và hoà nhập của 4 dân tộc với cộng đồng xã hội.

Xây dựng mô hình làng bản truyền thống của 4 dân tộc. Khôi phục văn hoá ở, mặc, các lễ hội truyền thống. Xây dựng môi trường sống để đảm bảo không gian văn hoá của dân tộc La Hủ, Mảng, Cống, Cờ Lao, đó là rừng, sông suối, đây là những thứ gắn bó chặt chẽ với đời sống kinh tế - văn hoá cộng đồng. Hỗ trợ chiếu phim lưu động, biểu diễn văn nghệ để tăng hưởng thụ đời sống tinh thần cho đồng bào. Hỗ trợ sản xuất các chương trình truyền hình về 4 dân tộc: về các đề tài văn hóa, nghệ thuật, lịch sử, đời sống kinh tế - xã hội... thực hiện lồng tiếng của từng dân tộc để phát trên sóng truyền hình nhằm tôn vinh, giới thiệu, góp phần hòa nhập văn hóa của 4 dân tộc với cộng đồng xã hội và các dân tộc khác.

Giải quyết các vấn đề xã hội và trật tư an toàn xã hội: Trước mắt là xoá bỏ tệ nạn xã hội và đảm bảo an ninh bản làng. Xoá bỏ các hủ tục lạc hậu, xây dựng quy ước trong các hoạt động của thôn bản. Tuyên truyền người dân về ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường, môi trường văn hóa thôn, bản, môi trường tự nhiên, bảo vệ và phát triển rừng đầu nguồn.. Tăng cường công tác tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước đến người dân. Nâng cao nhận thức cho quần chúng nhân dân không nghe lời kẻ xấu dụ dỗ, lừa gạt phụ nữ, trẻ em qua biên giới, chú trọng tuyên truyền già làng, trưởng bản, thanh niên nòng cốt. Tổ chức thành lập các tổ tự quản như: dân phòng, thanh niên tự quản làng bản, tự quản đường biên mốc giới để bảo vệ an ninh trật tự an toàn xã hội.

Củng cố hệ thống chính trị cơ sở và đào tạo, bồi dưỡng tăng cường đội ngũ cán bộ người dân tộc La Hủ, Mảng, Cống, Cờ Lao:

Làm tốt công tác quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn cán bộ: Quy hoạch phải đảm bảo tính kế thừa, có cán bộ cũ, cán bộ mới, cán bộ trẻ, cán bộ nữ; lựa chọn thanh niên, bộ đội xuất ngũ, học sinh đang học ở các trường trung học phổ thông, chuyên nghiệp đưa vào quy hoạch. Gắn quy hoạch với đào tạo, bồi dưỡng cả về văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị và kiến thức quản lý. Ưu tiên đào tạo cán bộ trẻ, cán bộ nữ có triển vọng lâu dài và làm nguồn cán bộ kế cận cho các địa phương. Kết hợp giữa đào tạo tập trung và đào tạo tại chức; những cán bộ trẻ, có triển vọng cần cử đi học tập trung dài hạn; những cán bộ cao tuổi cần tổ chức đào tạo tại chức, ngắn hạn theo chuyên đề như: quản lý nhà nước, xây dựng đảng, công tác dân tộc tôn giáo, công tác vận động quần chúng... để từng bước nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ. Lựa chọn con em 4 dân tộc là học sinh trường phổ thông, dân tộc nội trú đưa đi học đại học, cao đẳng, trung cấp phù hợp với chuyên ngành mà địa phương có nhu cầu tuyển dụng, sau khi tốt nghiệp trở về phục vụ tại chỗ nhất là cấp xã.

Có cơ chế riêng về quản lý, tuyển dụng cán bộ là người dân tộc Mảng, La Hủ, Cống, Cờ Lao như tiếp nhận em các dân tộc vào các cơ quan, đơn vị nhà nước sau đó cử đi đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, kể cả về văn hóa.

Thực hiện luân chuyển, tăng cường cán bộ có năng lực, tiến hành bồi dưỡng kỹ năng và phương pháp làm việc với các cộng đồng dân tộc cho đội ngũ cán bộ xã, cán bộ tăng cường, giáo viên: Luân chuyển và tăng cường cán bộ có trình độ, năng lực về các xã có đông đồng bào Mảng, La Hủ, Cống, Cờ Lao sinh sống; luân chuyển có thời hạn cán bộ xã là người 4 dân tộc về huyện công tác để có điều kiện học tập, nghiên cứu sau đó quay về cơ sở công tác. Bổ sung lực lượng bộ đội biên phòng có năng lực tham gia vào Đảng bộ, giữ chức phó bí thư thường trực tại các xã còn yếu kém. Các đồn Biên phòng cử đảng viên tham gia sinh hoạt ở chi bộ các bản.

Tổ chức dạy tiếng dân tộc và bồi dưỡng phương pháp làm việc với cộng đồng dân tộc thiểu số cho cán bộ tại chỗ, cán bộ tăng cường, giáo viên, bộ đội biên phòng để trang bị kiến thức và kỹ năng tổ chức các hoạt động dự án phát triển cộng đồng và vận động quần chúng.

Đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho các xã: Đối với các xã đặc biệt khó khăn nói chung và các xã vùng dân tộc Mảng, La Hủ, Cống, Cờ Lao nói riêng cần được quan tâm đầu tư cơ sở vật chất như trụ sở làm việc và các trang thiết bị phục vụ công tác tối thiểu điện thoại, máy tính, tủ tài liệu, bàn làm việc, v.v.

Bảo vệ chủ quyền biên giới và xây dựng biên giới hoà bình hữu nghị:

Tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân. Nắm vững hiệp định, hiệp nghị biên giới, qui chế khu vực biên phòng, đường biên, mốc giới trên thực địa, ý thức được Quốc gia, Quốc giới; âm mưu thủ đoạn của các loại tội phạm để thực hiện và cùng với Bộ đội Biên phòng tham gia bảo vệ Biên giới và đấu tranh với các loại tội phạm. Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh Biên giới quốc gia. Chỉ đạo, tổ chức thực hiện và duy trì tốt mối quan hệ của các cấp, các lực lượng hai bên biên giới Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam - Lào. Kịp thời trao đổi thông tin, không để các hoạt động vi phạm hiệp định của cư dân hai bên đến đường biên, mốc giới và an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội khu vực, xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị và bền vững.

Tăng cường sự tham gia của cả hệ thống chính trị địa phương:

Huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị, các ngành, các cấp, các tổ chức đoàn thể địa phương trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng đối với vùng đồng bào 4 dân tộc. Trong đó, đặc biệt chú trọng vai trò của lực lượng bộ đội biên phòng, tổ chức đoàn thanh niên (nhất là thanh niên tình nguyện) và đội ngũ giáo viên cắm bản. Có các chính sách ưu đãi nhất định cho các lực lượng này để phát huy, động viên lực lượng này tham gia có hiệu quả vào việc phát triển vùng các dân tộc Mảng, La Hủ, Cống, Cờ Lao.

Việc triển khai Đề án “Phát triển kinh tế, xã hội các dân tộc Mảng, La Hủ, Cống, Cờ Lao” không chỉ mang tính hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường đơn thuần như các đề án khác, mà ý nghĩa cao nhất là thể hiện tính nhân văn và sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước trước các cộng đồng dân tộc trong đại gia đình 54 dân tộc Việt Nam.

 ThS. Nguyễn lâm thành
Vụ trưởng Vụ Địa phương I

[ Quay lại ]
Các tin khác

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,443,744


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs