Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng với quyết sách phát triển nền kinh tế kháng chiến

 28/03/2011

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng

Từ ngày 11 đến 19 tháng 2 năm 1951, tại xã Kim Bình, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang đã diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng. Tỉnh Tuyên Quang (xưa kia có các tên gọi lộ Quốc Oai, châu, trấn, phủ Tuyên Hoá, thành Tây Đạo, tỉnh Minh Quang, doanh An Tây) - một địa danh nổi tiếng gắn bó lâu đời với truyến thống lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc và truyền thống cách mạng.

Từ năm 1940, Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang được thành lập trực tiếp lãnh đạo đồng bào các dân tộc trong tỉnh đấu tranh vượt qua mọi gian khổ, hi sinh trong cao trào chống bọn thực dân thực dân, phát xít để giải phóng dân tộc, làm tròn sứ mệnh thiêng liêng bảo vệ đại bản doanh của lãnh tụ Hồ Chí Minh ở Sơn Dương. Tân Trào - Thủ đô Khu giải phóng, nơi diễn ra Hội nghị toàn quốc của Đảng, Đại hội quốc dân, nơi truyền đi lệnh Tổng khởi nghĩa giành chính quyền cả nước, đã trở thành thánh địa đầu nguồn của cuộc Cách mạng Tháng Tám (1945). Những năm 1947 - 1954 với việc Chủ tịch Hồ Chí Minh trở lại căn cứ Sơn Dương chủ trì Hội nghị Trung ương (l-1948), qua lại công tác ở các huyện Sơn Dơng, Chiêm Hoá, Yên Sơn; Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ban, ngành Trung ương đặt nơi làm việc, Tuyên Quang một lần nữa có vinh dự là Thủ đô của cuộc kháng chiến chống Pháp. Đặc biệt Tuyên Quang được chọn là nơi tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng - Đại hội đầu tiên ở trong nước cách xa Thủ đô Hà Nội hơn 250 km. Mảnh đất Tuyên Quang được mệnh danh là nơi ra đời Luận cương cách mạng Việt Nam - Cương lĩnh thứ ba của Đảng về hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhân dân tiến tới chủ nghĩa xã hội; đồng thời là nơi Đảng, Nhà nước ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh có thời gian, điều kiện tập trung bổ sung, hoàn chỉnh đường lối kháng chiến, kiến quốc, đề ra nhiều quyết sách đưa cuộc kháng chiến đến thành công, trong đó có quyết sách phát triển nền kinh tế kháng chiến.

Quyết sách phát triển nền kinh tế kháng chiến được nêu trong Cương lĩnh, đường lối chung thảo luận và thông qua tại Đại hội II của Đảng và cụ thể hoá trong một số văn kiện và Báo cáo kinh tế tài chính tại Đại hội. Đại hội II của Đảng diễn ra trong bối cảnh lịch sử có nhiều điều kiện trong nước và thế giới thuận lợi cho cuộc kháng chiến về chính trị, quân sự, phát triển kinh tế kháng chiến. Đại hội quyết định đưa Đảng ra công khai, lấy tên Đảng Lao động Việt Nam, công bố Cương lĩnh chính trị, bổ sung hoàn chỉnh đường lối kháng chiến, kiến quốc và các quyết sách biện pháp đưa kháng chiến Việt Nam đến thắng lợi, cùng những vấn đề liên quan đến cách mạng Đông Dương. Từ Báo cáo chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, báo cáo Bàn về cách mạng Việt Nam của Tổng Bí thư Trường Chinh là những văn kiện quan trọng có ý nghĩa chỉ đạo phương hướng, nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn kháng chiến, sau kháng chiến thắng lợi, đã nêu bật mục tiêu phương hướng cơ bản của Cương lĩnh chính trị bao quát là tiêu diệt đế quốc xâm lược và trừng trị bù nhìn phản quốc làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, thống nhất, bảo vệ hoà bình thế giới; xoá bỏ những tàn tích phong kiến, nửa phong kiến làm cho nước Việt Nam dễ tiến trên con đường dân chủ nhân dân; củng cố và phát triển chế độ cộng hoà dân chủ nhân dân, hoàn thành dân chủ nhân dân để tiến tới chủ nghĩa xã hội. Củng cố và phát triển chế độ cộng hoà dân chủ nhân dân phải thực hiện chính trị dân chủ nhân dân và xây dựng nền kinh tế dân chủ nhân dân.

Kinh tế dân chủ nhân dân là kinh tế thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong kinh tế dân chủ nhân dân có các bộ phận (nay gọi các thành phần) kinh tế nhà nước (những xí nghiệp do nhà nước kinh doanh), bộ phận kinh tế hợp tác xã (những tổ chức kinh tế do hợp tác xã kinh doanh), bộ phận kinh tế nhỏ (tức kinh tế cá thể của nông dân, tiểu thương, tiểu chủ) và bộ phận kinh tế tư bản tư nhân (những xí nghiệp của tư sản dân tộc). Ngoài ra còn bộ phận kinh tế tư bản nhà nước (những xí nghiệp của tư bản tư nhân cùng chung vốn với nhà nước kinh doanh, hoặc các xí nghiệp và tài nguyên của nhà nước nhượng cho tư nhân kinh doanh). Kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác xã hợp thành bộ phận xã hội hoá và đóng vai trò quyết định trong nền kinh tế quốc dân.

Những phương sách kinh tế dân chủ nhân dân lớn của Đảng là tịch thu tài sản của bọn đế quốc xâm lược và bọn phản quốc, thủ tiêu đặc quyền, đặc lợi của chúng phát triển lực lượng sản xuất quốc gia. Từ giảm tô, giảm tức, tạm cấp ruộng đất của thực dân Pháp, Việt gian cho dân cày nghèo đi đến từng bước cải cách ruộng đất thực hiện “người cày có ruộng”, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và tạo thêm điều kiện kỹ nghệ hoá nước nhà. Kỹ nghệ hoá đi từ phát triển tiểu công nghệ lên xây dựng kỹ nghệ nặng, cải tiến kỹ thuật theo những phát minh mới của khoa học. Phát triển kinh tế nhà nước và kinh tế hợp tác xã để xây dựng bộ phận kinh tế xã hội hoá lớn mạnh làm cho kinh tế nhà nước đóng vai trò lãnh đạo các bộ phận kinh tế khác. Tiến tới kế hoạch hoá kinh tế quốc dân. Khi nào đủ điều kiện kế hoạch hoá thì trước hết đặt kế hoạch ngắn hạn để phục hưng và phát triển kinh tế, sau tiến lên đặt kế hoạch dài hạn xây dựng cơ sở của chủ nghĩa xã hội. Tổ chức thi đua yêu nước để tăng gia sản xuất mạnh. Cải thiện sinh hoạt cho quần chúng lao động. Bảo vệ, phát triển sức lao động, giáo dục tinh thần yêu lao động. Gia nhập tập đoàn kinh tế dân chủ, phát triển mối quan hệ kinh tế nước ta với các nước bạn trên thế giới. Trong những việc nêu trên, có những việc bắt đầu làm trong giai đoạn kháng chiến, tiếp tục làm sau kháng chiến và còn làm một thời gian lâu dài nữa mới có thể trọn vẹn được.

Xây dựng nền kinh tế dân chủ nhân dân trước tiên phải phát triển nền kinh tế kháng chiến. Nền “kinh tế kháng chiến là kinh tế dân chủ nhân dân trong giai đoạn mà nhiệm vụ chủ yếu là tiêu diệt chủ nghĩa đế quốc xâm lược”. Trong phát triển nền kinh tế kháng chiến cần đặc biệt chú trọng tăng gia sản xuất nông nghiệp, xây dựng kỹ nghệ quốc phòng, thực hành tiết bệm, cải thiện dân sinh, phá hoại kinh tế địch. Phải đặc biệt giúp đỡ và hướng dẫn nông dân lao động, tiểu thương, tiểu chủ vào con đường hợp tác xã; phải giúp đỡ khuyến khích tư sản dân tộc bỏ vốn kinh doanh các ngành có ích cho kinh tế quốc dân. Gắn kinh tế với tài chính, thực hiện việc thu chi ngang bằng, củng cố nền tài chính quốc gia. Phương châm xây dựng kinh tế dân chủ nhân dân, cũng như phát triển nền kinh tế kháng chiến là phân công, phối hợp giữa các bộ phận kinh tế dưới sự lãnh đạo của bộ phận kinh tế nhà nước; giữa kinh tế trung ương và kinh tế địa phương dưới sự điều chỉnh của kinh tế trung ương; giữa thành thị và nông quê phát triển mậu dịch trên nguyên tắc giúp đỡ lẫn nhau; giữa Chính phủ và tư nhân, dưới sự lãnh đạo của Chính phủ. Nâng cao quyền lợi lao động là chủ yếu, đồng thời chú ý đến quyền lợi của tư bản. Giao dịch với kinh tế nước ngoài trên nền tảng cả hai bên cùng có lợi: Tự lực cánh sinh là chính, giúp đỡ của nước ngoài là phụ.

Từ Cương lĩnh bao quát, trong giai đoạn kháng chiến và ngay sau kháng chiến, Đảng nêu ra 14 chính sách, trong đó có hai chính sách lớn về phát triển nền kinh tế kháng chiến là “mở mang kinh tế và cải cách ruộng đất”. Mở mang kinh tế là phát triển nền kinh tế kháng chiến nhằm “làm cho quân và dân ta đủ ăn, đủ mặc, có súng, có đạn để đánh lâu”. Để thoả mãn nhu cầu kháng chiến và cải thiện dân sinh, công và tư đều có lợi phải tăng gia sản xuất nông nghiệp bằng mọi biện pháp tích cực đồng thời phát triển công nghệ, tiểu thủ công nghiệp với những chính sách động viên, khuyến khích các bộ phận kinh tế tư sản, tư bản nhà nước. Phát triển nông nghiệp, công nghiệp phải giải quyết vấn đề giao thông vận tải, thương nghiệp giá cả, thị trường và xem xét thêm về vấn đề bao vây kinh tế địch đã thực hiện trước đó còn nhiều khiếm khuyết; vấn đề tài chính và thuế khoá theo hướng ổn định và dân chủ hoá. Những việc chính phải làm nói trên là để phát triển nền kinh tế kháng chiến.

Cải cách ruộng đất là phương sách tích cực phản phong kiến, giải phóng dân cày, phát triển kinh tế. Trong kháng chiến, nhiệm vụ phản đế là chính nhưng vấn đề cải cách ruộng đất cần đặt ra. Khâu chính của chính sách ruộng đất lúc này là giảm tô, giảm tức để làm cho nông dân phấn chấn tăng gia sản xuất, hăng hái kháng chiến. Cải cách ruộng đất trong kháng chiến phải thực hiện dần từng bước và theo đúng chính sách của Đảng, Nhà nước về đối tượng, nhiệm vụ và nhằm tập trung lực lượng cho kháng chiến.

Trong Báo cáo kinh tế tài chính, trên cơ sở tổng kết những ưu điểm, khuyết điểm về xây dựng kinh tế, tài chính 5 năm ( 1946 - 1950) trên các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp giảm tô, giảm tức, sử dụng công điền công thổ, tạm cấp ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian, hiến điền, hợp tác xã; các lĩnh vực công thương nghiệp, nội ngoại thương, tài chính, tổng động viên, đảm phụ, tinh giản tiết kiệm, phá hoại kinh tế địch, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng về tư tưởng, chính trị, tổ chức, đã nêu rõ những chính sách, nhiệm vụ mới của phát triển nền kinh tế kháng chiến toàn diện trong giai đoạn tổng phản công giành thắng lợi quyết định. Những giải pháp, biện pháp để thực hiện quyết sách phát triển kinh tế kháng chiến trên các mặt nông nghiệp, thủ công nghiệp và công nghiệp, thương mại, giao thông, vận tải, hợp tác xã, tài chính, tăng gia sản xuất trong bộ đội, cơ quan, trường học, trong vùng bị tạm chiếm, những nơi mới được giải phóng, tinh giản, tiết kiệm, giúp đỡ Miên, Lào kháng chiến và lãnh đạo, chỉ đạo kinh tế của Đảng... được nêu ra rõ ràng, chặt chẽ và có tính khả thi. Thực hiện đầy đủ các biện pháp đó “chính sách kinh tế nhân dân kháng chiến của chúng ta nhất định hoàn toàn thành công và đấy là thắng lợi căn bản của chúng ta trên con đường dài đi tới kinh tế xã hội chủ nghĩa”.

Tỉnh Tuyên Quang không chỉ là nơi ra đời, mà còn là một trong số địa phương đầu tiên thực hiện Cương lĩnh của Đảng, xây dựng nền chính trị dân chủ nhân dân, kinh tế, văn hóa - xã hội dân chủ nhân dân, những quyết sách phát triển nền kinh tế kháng chiến của Đảng đạt nhiều kết quả. Kế thừa thành tựu xây dựng kinh tế kháng chiến ở một tỉnh tự do luôn bị địch uy hiếp những năm trước đó, thực hiện cương lĩnh, đường lối và quyết sách Đại hội II của Đảng, Đảng bộ, nhân dân Tuyên Quang đã đẩy mạnh xây dựng lực lượng hậu phương chi viện cho tiền tuyến, phát triển kinh tế - xã hội nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân, cung cấp vật lực, tài lực, nhân lực cho kháng chiến; khẩn trương xây dựng lực lượng sẵn sàng chiến đấu đánh địch trên địa bàn bảo vệ an toàn hậu phương, thủ đô kháng chiến. Việc xây dựng, củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị dân chủ nhân dân (tổ chức đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể quần chúng); tiếp tục cuộc đấu tranh giai cấp ở nông thôn đã tạo ra những biến đổi mới về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội trên quê hương cách mạng. Về kinh tế, sản xuất nông nghiệp là mặt trận chính không ngừng tăng diện tích gieo trồng và sản lượng lương thực hàng năm từ năm 1951 đến 1954, năm sau cao hơn năm trước. Năm 1951, toàn tỉnh cấy được 51.793 mẫu, thu hoạch 36.255.100 kg thóc. Năm 1952, diện tích cấy vụ chiêm tăng hơn so với năm 1951 tới 6.775 mẫu; năm 1953 tăng hơn 1952 là 5.769 mẫu. Năm 1954, diện tích lúa chiêm chính vụ và lúa Nam Ninh tăng 3.350 mẫu so với năm trước; vụ mùa toàn tỉnh có 58.375 mẫu. Diện tích sắn, ngô, khoai, rau đều tăng, giữa năm 1952, có 3.270,5 mẫu, tập trung ở các huyện Chiêm Hóa, Hàm Yên, Yên Sơn. Chăn nuôi đến năm 1952 đạt 25.574 con trâu, l.537 con bò, 38.283 con lợn: Nguồn lợi lâm thổ sản của rừng được khai thác sử dụng, riêng năm 1954 khai thác 9.885 m3 gỗ, hàng ngàn khối gỗ củi, mây song, nứa, củ nâu. Công tác thu thuế nông nghiệp năm 1953 tăng 1.500 tấn so với năm 1952. Phong trào tổ đổi công đến năm 1954 đã tổ chức được 665 tổ, chấn chỉnh 947 tổ. Hầu hết các xã đều có phong trào làm đổi công.

Tiểu công nghệ, thủ công nghiệp được xây dựng, mở rộng. Đến tháng 10/1953, tỉnh có 7 tổ cán bông, 8 cơ sở dệt chiếu, 49 lò đường, 1 lò thuộc da, 3 cơ sở làm bừa sắt phục vụ nông nghiệp, 41 lò rèn, 2 doanh nghiệp nhà nước sản xuất nông cụ, 4 cơ sở sản xuất giấy và diêm.

Sự phát triển kinh tế kháng chiến của tỉnh Tuyên Quang theo Cương lĩnh, đường lối, quyết sách của Đảng tại Đại hội II (2/1951) đã giúp tỉnh làm tròn sứ mệnh vẻ vang của hậu phương, an toàn khu và thủ đô kháng chiến góp phần vào thắng lợi của các chiến dịch lớn của Trung ương như chiến dịch Tây Bắc (10/1952), chiến dịch Điện Biên Phủ (1954), Đông Xuân 1953-1954, tỉnh huy động 56.196 lượt dân công, cung cấp cho tiền phương 4.486.955 kg gạo, 52.770 kg thịt trâu, 914 kg thịt bò, 41.657 kg thịt lợn, 10.890 kg lạc, 11.282 kg đỗ xanh. Ngoài ra còn cung cấp lương thực, thực phẩm... cho các cơ quan Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ban, ngành trung ương đóng trên đất Tuyên Quang, góp nhiều nhân công, vật liệu xây dựng nhà ở, hội trường, đào hầm hào phục vụ Đại hội Đảng. Những đóng góp về kinh tế cho kháng chiến đó làm tăng thêm ý nghĩa là nơi ra đời Cương lĩnh, đường lối với nhiều luận điểm sau này được Đảng tiếp tục phát triển. Nơi ra đời và thực hiện đầu tiên các quyết sách phát triển kinh tế kháng chiến, để lại nhiều bài học, kinh nghiệp quý báu cho tỉnh và đất nước trong các giai đoạn cách mạng từ đó đến ngày nay.

 PGS, TS. Nguyễn Thanh Tâm

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Hội nghị công bố và giới thiệu Nghị định về công tác dân tộc (03/2011)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 61,475,584


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.3 secs