Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 01/06/2011
Cái lý của người Mông qua điệu khèn


Từ bao đời nay, cây khèn gắn liền với đời sống của đồng bào Mông. Văn hóa khèn cũng từ đó mà hình thành. Khèn đã góp phần làm phong phú hơn đời sống tinh thần của đồng bào. Với người Mông, tiếng khèn là sợi dây tâm linh nối người sống với người đã khuất, là cây cầu bắc lời tỏ tình đôi lứa, là những câu chuyện được kể bằng giai điệu. Theo đồng bào Mông, mỗi điệu khèn cất lên, đều phải có “Cái lý” của nó, tức là nguyên nhân, lý do, nguồn gốc của sự vật, hiện tượng, hành động song lại luôn thấm đẫm tình người, tình đất.

Trong kho tàng văn hóa dân gian của người Mông hiện vẫn lưu truyền một truyền thuyết có ý nghĩa nhân văn sâu sắc kể về sự ra đời của cây khèn. Ngày xưa, trong một gia đình người Mông nọ có sáu người con trai cường tráng và tài giỏi. Cả sáu anh em đều có tài thổi ống rất hay. Lúc đầu, mỗi người thổi một ống của riêng mình. Khi vui buồn, họ đều mang khèn ra cùng nhau thổi những giai điệu thành một bè. Ngày qua ngày, sáu anh em họ luôn bên nhau gắn bó và thổi những điệu nhạc hay nổi tiếng trong vùng. Rồi một ngày, người em út nghĩ rằng nếu muốn thổi thành bè thì cả sáu anh em phải cùng thổi mới được. Nếu một trong sáu người bận việc đi vắng hay mất đi rồi muốn thổi bè thì làm sao có được bài khèn hay? Vậy nên anh ta đã nghĩ ra cách lấy ống bầu lớn để gắn cả sáu ống làm thành cây khèn. Trong đó ống dài nhất tượng trưng cho người anh cả, ống ngắn nhì tượng trưng cho người anh hai,... cứ lần lượt như thế và ống ngắn nhất tượng trưng cho cậu em út. Khi gắn các ống lại với nhau, một người cũng có thể thổi được và âm thanh của cả sáu ống đều vang lên rất nhịp nhàng. Từ đó cây khèn của người Mông ra đời.

Khèn Mông có 6 ống trúc dài ngắn khác nhau, tượng trưng cho sự đoàn kết của tình anh em. Khèn là nhạc cụ thổi bằng hơi. Bên trong tất cả các ống trúc đều rỗng. Có một bầu gỗ nối các ống trúc lại với nhau. Trên mỗi thân ống trúc nằm ngang có một lưỡi gà nhỏ bằng đồng. Bên ngoài ống trúc có các lỗ. Muốn thổi ra âm thanh, người thổi phải dùng hai bàn tay giữ khèn, đồng thời lấy các ngón tay bịt các lỗ lại. Hơi thổi vào khèn sẽ xuyên qua lưỡi gà phát ra âm thanh. Thổi vào hoặc hít ra sẽ tạo âm thanh trầm bổng khác nhau. ống trúc để làm khèn được lựa chọn rất kỹ lưỡng. Người Mông phải chọn ống trúc già, chắc, đều. Trúc dùng làm ống được đem phơi nắng để vừa đủ độ khô thì khèn mới kêu hay. Quan trọng nhất là khâu khoét lỗ cho lưới đồng rồi bịt lại thật khít. Độ cao thấp, vang ngân của khèn phụ thuộc vào việc chỉnh các lưới đồng, mỏng dày và to nhỏ ra sao. Các ống song song sẽ phát âm đôi như nhau. Tùy kỹ năng của người thổi theo hợp âm, hòa âm, đánh chồng âm, vỗ, luyến, ê a,... mà tạo nên những khúc nhạc thu hút. Có nơi người ta thiết kế loại nhạc cụ này gồm 8 hay 9 ống trúc làm cho âm vực rộng hơn nhưng vẫn giữ âm sắc của khèn 6 ống. Cũng có nơi làm khèn bằng gỗ Pơmu thay cho ống trúc.

Khèn được coi là biểu tượng cho người Mông, bởi tiếng khèn đã ăn sâu vào đời sống và tâm hồn của đồng bào. Tiếng khèn thấm vào máu thịt người Mông “thân quen như miếng mèn mén mẹ mớm từ lúc mới biết ăn dặm”.

Nếu chúng ta nghe và hiểu được tiếng khèn tức là ta đã thấu hiểu được tâm tư nguyện vọng, những ước mơ, những xúc cảm vui, buồn của những người con xứ núi. Sự hòa hợp giữa các làn điệu dân ca và âm sắc của khèn tạo nên hơi thở, tạo nên phần hồn của đại ngàn. Âm điệu của khèn là tiếng róc rách của suối, là hương của núi, là tiếng gió của cây rừng, là nỗi lòng người Mông. Trai bản khi 13, 15 tuổi đã có cây khèn trên vai mỗi khi lên nương, xuống chợ.

Tiếng khèn được coi là âm thanh thể hiện sức sống mạnh mẽ của đồng bào Mông. Để thổi được khèn phải là những người con trai khỏe mạnh, khéo léo và có hơi dài. Vì vậy tiếng khèn cất lên cũng là cách thể hiện sức mạnh, bản lĩnh của những người đàn ông Mông. Rõ ràng, nếu không kiên cường mạnh mẽ, thì đồng bào Mông không thể đứng vững trước những khắc nghiệt của núi rừng, không thể đương đầu với cái nắng, cái gió trên cao nguyên, đối chọi với những vách đá dựng đứng, những nương ngô đỉnh trời nắng rọi. Ngày xưa, tổ tiên người Mông đã có những hình thức để thi thố tài năng giữa các chàng trai trong bản. Chàng trai Mông tài giỏi phải vừa biết nhảy múa, vừa biết thổi khèn hay trên những cây cọc cắm xuống đất san sát nhau. ở phía dưới, dân làng đốt những đống lửa, ai không khéo, không giỏi, rơi xuống sẽ bị bỏng. Đây cũng là hình thức chọn chồng tinh tế, ý nhị của những cô gái Mông. Các cô sẽ quan sát xem chàng trai nào khéo léo, khỏe mạnh để trao gửi tâm tình của mình bằng ánh mắt, nụ cười. Cũng từ những điệu khèn mà các chàng trai bộc bạch tình cảm, ước muốn tìm người bạn đời. Mỗi một điệu khèn cất lên đều có nội dung, mục đích bày tỏ nỗi lòng mình trong đó. Điệu khèn Mông với “cái lý” thể hiện sức sống mạnh mẽ, khát khao cháy bỏng của sự sinh tồn và phát triển tương lai. Những chàng trai Mông thổi khèn hay, múa khèn dẻo luôn nhận được sự quý mến, nể phục của nhiều người. Biết bao chàng trai, cô gái đã nên duyên vợ chồng nhờ những điệu khèn e ấp. Chẳng vậy mà tiếng khèn xứ núi đã đi vào văn chương, âm nhạc với những mối tình, những cảm xúc lứa đôi. Người con trai Mông dù đi đâu, làm gì đều luôn giữ cây khèn như người bạn đường bên mình. Bởi từ khi sinh ra đến lúc lớn lên, tiếng khèn đã là bầu bạn cùng họ. Lên 10 tuổi, đã bắt đầu được cha truyền dạy cho cách thức thổi khèn. Năm 11, 12 tuổi, nhiều chàng trai đã thổi được những điệu khèn cơ bản. Đó là những điệu khèn tìm bạn và ngỏ lời tâm tình. Đã là con trai Mông mà không biết múa khèn, múa võ thì đều bị coi là tầm thường và khó có thể kén được vợ đảm đang.

Vào những dịp chợ phiên, những ngày lễ tết thì nét văn hóa truyền thống của người Mông qua điệu khèn vẫn luôn hiển hiện một cách đậm nét. Tới chợ phiên trong màn sương sớm, thấp thoáng từ khắp các rẻo cao đổ về thung lũng, đâu đâu cũng nhìn thấy những chàng trai Mông đeo bên mình chiếc khèn. Chỉ cần nhìn thấy cô gái ưng mắt là họ đã bắt đầu tấu lên những điệu khèn tâm tình bày tỏ lòng mình. Nếu cô gái hiểu được tâm tình của chàng trai và đồng ý kết đôi, các cô sẽ xòe ô múa cùng chàng trai để rồi cùng nhau xuống chợ. Chiếc khèn vì vậy không chỉ là vật biểu trưng cho sức mạnh chàng trai Mông mà còn biểu hiện đời sống văn hóa tinh thần phong phú của người dân xứ núi. Nói với nhau bằng những lời ngọt ngào dung dị đã là cách giao tiếp văn hóa. Với người Mông, họ không chỉ giao tiếp với nhau bằng lời mà còn bằng nhạc, bằng thơ, bằng thanh âm của núi rừng. Lòng người Mông vì thế mà trong trẻo như suối, như nước, nhẹ nhàng như mây trời, véo von như chim hót, chân tình nhưng đậm đà như chén rượu ngô chắt chiu từ tình đất, tình người.

Với đời sống tinh thần phong phú và tâm hồn đậm chất thơ nên trong tâm trí của người Mông, thời gian không mang tính vật lý mà mang tính tâm lý. Lúc vui thì họ có thể hát hò, nhảy múa thâu đêm suốt sáng; lúc buồn thì có thể thổi khèn hết ngày này sang ngày khác không thôi. Những con người nơi đây nhìn sự sống, cảnh quan bằng một tâm hồn dung dị và thật hồn nhiên. Mùa không chỉ là 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông mà còn có cả mùa yêu, mùa lễ, mùa thiên nhiên. Đó là mùa con trai, con gái tìm hiểu nhau, là lúc tiếng hát điệu khèn vang động bản làng. Mùa thiên nhiên là mùa nên duyên vợ chồng, mùa uống rượu chung vui, mùa dặt dìu mơ màng trong chén rượu, điệu múa lượn của khèn, xòe ô của trai gái. Tục “Tranh vợ, bắt vợ” đã không còn, tiếng khèn với nét văn hóa mới lịch sự và thanh cao càng làm cho “cái lý” trong văn hóa của người Mông ngày càng đẹp hơn.

Người Mông ở mảnh đất Simacai-Lào Cai vẫn còn giữ được những nét truyền thống trong phong tục tập quán. Với những người dân nơi đây, chết là đi về thế giới khác và vẫn còn có mối liên hệ quây quần với gia đình, người thân.

Trong mỗi đám ma người ta thường tấu 33 điệu khèn để bày tỏ lòng thương nhớ đối với người đã khuất. Đầu tiên là điệu khèn báo nhà có người mất. Tiếp theo là những điệu khèn bày tỏ nỗi tiếc thương. Có điệu khèn cúng cơm, điệu khèn cúng buổi sáng, điệu khèn cúng buổi chiều và buổi tối. Đồng bào người Mông sống rất tình cảm và có tính cộng đồng cao. Khi gia đình nào có người mất đi, cả bản nghe tiếng khèn báo hiệu và đến chia buồn. Mọi người thường mang theo rượu, hoặc ngô, hoặc thịt… chia buồn với gia đình đó. Mỗi một đoàn vào viếng có một điệu khèn riêng báo cho gia chủ biết người đó có mối quan hệ như thế nào đối với gia chủ và người quá cố. Trong mỗi đám tang, tiếng khèn là khúc tâm tình bày tỏ nỗi tiếc thương của bạn bè thân thích đối với người đã khuất, nên được thổi thâu đêm suốt sáng từ 3 đến 5 ngày. Người nhà thường thuê từ 3 đến 5 người thổi khèn hay và múa giỏi với mục đích mong cho tiếng khèn ngân vang suốt thể hiện nỗi lòng tiếc thương không dứt đối với người đã khuất và niềm đau xót đó vang động cả tới núi đồi. Ngày nay, đám tang của người Mông cũng đã có những biến đổi hiện đại hơn nhiều so với trước, xóa bỏ đi những tập tục rườm rà, mê tín nhưng tiếng khèn trong đám tang thì luôn luôn có, cũng như tiếng kèn, tiếng nhị trong đám tang của người Kinh.

Từ bao đời, tiếng khèn gắn bó với đồng bào Mông. Một vòng tuần hoàn của đời người là sinh ra cùng tiếng khèn, lớn lên bởi tiếng khèn để rồi cuối cùng chết đi cũng có tiếng khèn đưa tiễn. Trong những thanh âm đó, người ta nhận ra niềm yêu thương, tâm hồn và sự sống của đồng bào Mông thật chân chất, giản dị. Người Mông nói chuyện với nhau bằng “cái lý” của điệu khèn. Đó là tình cảm tha thiết sâu đậm, khiến cho những ai đã một lần đến với đồng bào Mông sẽ không thể không có những phút giây lắng lòng, nhớ văng vẳng tiếng khèn mời mọc, dặt dìu như đang níu chân nơi cổng trời trên những triền núi cao phía Bắc của Tổ quốc.

Vũ Thị Thu Trang

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,892,559


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.3 secs