Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 01/06/2011
Cuộc sống mới của đồng bào dân tộc huyện miền núi Kbang


Đồng bào Tây Nguyên thu hoạch cà phê

Kbang là huyện vùng sâu, vùng xa của tỉnh Gia Lai, có diện tích tự nhiên 184.185,92 ha, trong đó chủ yếu là rừng, đất rừng, địa hình đồi núi phức tạp, giao thông đi lại khó khăn. Toàn huyện có 13 xã và 1 thị trấn, trong đó có 8 xã đặc biệt khó khăn. Dân số 14.790 hộ với 62.230 nhân khẩu, trong đó dân tộc Kinh: 33.012 nhân khẩu, chiếm 53,05%; dân tộc Bana: 24.198 khẩu, chiếm 38,88%, dân tộc khác 5.020 khẩu, chiếm 8,07%.

Triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Đảng bộ Tỉnh lần thứ 6 (khóa XIII) về tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xóa đói giảm nghèo, định canh định cư giai đoạn 2007-2010 và định hướng đến năm 2020; Chương trình hành động số 25/HU ngày 23/8/2007 của Huyện ủy Kbang thực hiện Nghị quyết 6 khóa XIII của Tỉnh ủy, nhờ đó công tác xóa đói giảm nghèo của huyện có khởi sắc đáng kể.

Từ năm 2006-2010, Ngân hàng Chính sách xã hội huyện đã thực hiện giải ngân cho hộ nghèo 76.719 triệu đồng, với 6.838 lượt hộ vay, trong đó hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số được vay 3.320 lượt hộ. Mức vốn vay bình quân hàng năm được nâng lên đáng kể, đáp ứng phần lớn số hộ nghèo có nhu cầu về vốn trên địa bàn, tạo điều kiện cho hộ nghèo mạnh dạn vay vốn làm ăn, đầu tư sản xuất, cải thiện đời sống.

Chương trình vay vốn hỗ trợ việc làm, đào tạo nghề cũng mang lại hiệu quả thiết thực. Thực hiện nguồn vốn vay 120 về giải quyết việc làm, trong thời gian từ 2006-2010, đã cho vay 4.200 triệu đồng, giải quyết việc làm cho trên 480 lao động, với 42 dự án. Nhờ nguồn vốn này đã mở ra nhiều hướng làm ăn mới, góp phần tạo việc làm ổn định, lâu dài cho người lao động như: mô hình kinh tế VACR, mô hình trồng cỏ nuôi bò, trồng và chăm sóc cà phê, trồng và chăm sóc giống mía cao sản có năng suất cao, chuyển đổi ngành nghề; không chỉ mang lại hiệu quả về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa sâu sắc về chính trị, xã hội.

Thực hiện Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ban hành Điều lệ Bảo hiểm y tế, Thông tư liên tịch số 21/2005/TTLT-BYT-BTC ngày 27/7/2005 của liên Bộ Y tế, Tài chính “Về hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế bắt buộc”, Uỷ ban nhân dân huyện đã chỉ đạo các cơ quan liên quan, Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn phối hợp lập danh sách mua và cấp 163.130 thẻ bảo hiểm y tế cho đối tượng người nghèo, người dân tộc thiểu số.

Thực hiện Chương trình 134, Uỷ ban nhân dân huyện đã xây dựng đề án hỗ trợ đất sản xuất, nhà ở, nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn. Tổng số hộ nghèo được hỗ trợ về nhà ở theo đề án phê duyệt là 1.387 nhà (đợt 1: 811 nhà, đợt 2: 576 nhà), đã triển khai làm 1.351 nhà với tổng kinh phí 12.484,728 triệu đồng, trong đó Nhà nước hỗ trợ: 8.432 triệu đồng; gia đình đóng góp: 3.323,843 triệu đồng; cộng đồng các doanh nghiệp giúp đỡ: 730,885 triệu đồng. Nhờ thực hiện tốt chương trình này nên về cơ bản đã xóa bỏ nhà tranh tre, nứa lá, làm thay đổi diện mạo nông thôn về nhà ở; hộ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo đã có nhà ở vững chắc, từng bước ổn định cuộc sống, chăm lo phát triển kinh tế, vươn lên thoát nghèo.

Ngoài ra huyện còn chủ động thực hiện việc hỗ trợ đất ở, đất sản xuất. Từ năm 2005-2007 số diện tích đất ở đã cấp 1,54 ha cho 43 hộ đạt 97,72% về số hộ và đạt 107,7% về diện tích; đạt 100% kế hoạch. Nhìn chung các hộ được giao đất đã sử dụng đúng mục đích, góp phần ổn định cuộc sống cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Sau khi rà soát điều chỉnh đề án đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định phê duyệt tại Quyết định số 200/QĐ-UBND tỉnh ngày 22/2/2008 có 387 hộ đồng bào dân tộc Bana được hỗ trợ đất sản xuất với tổng diện tích 163,64 ha.

Thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II, huyện Kbang có 8 xã và 14 thôn, làng đặc biệt khó khăn được hưởng lợi từ chương trình. Việc phân cấp cho xã làm chủ đầu tư được tăng cường triển khai, trong đó hỗ trợ sản xuất các xã đặc biệt khó khăn, đã giao cho 7/8 xã làm chủ đầu tư toàn bộ kinh phí; hỗ trợ các dịch vụ cải thiện đời sống, trợ giúp pháp lý xã đặc biệt khó khăn và các hợp phần hỗ trợ cho các thôn làng đặc biệt khó khăn thuộc xã khu vực II đã giao cho 5/5 xã làm chủ đầu tư. Việc phân bổ vốn được tiến hành theo nguyên tắc không chia đều, mà căn cứ điều kiện cụ thể của từng xã để bố trí vốn đầu tư; nguyên tắc dân chủ công khai được đưa lên hàng đầu và thực hiện ở mọi khâu trong quá trình thực hiện chương trình.

Huyện đã chủ động triển khai dự án hỗ trợ phát triển sản xuất. Tổng vốn kế hoạch thuộc hợp phần phát triển sản xuất giai đoạn 2006-2010 là 8.145 triệu đồng. Đến cuối năm 2009, đã thực hiện được 4.788,819 triệu đồng, đạt 93,81% so với kế hoạch vốn tại cùng thời điểm và đạt 58,8% kế hoạch giai đoạn (2006-2010). Số hộ được thụ hưởng là 7.924 hộ và 136 nhóm hộ. Nguồn vốn hỗ trợ sản xuất qua từng năm đều tăng. Năm 2010, vốn kế hoạch là 3.040 triệu đồng, đã và đang thực hiện, dự kiến hoàn thành vào cuối năm. Các mô hình phát triển sản xuất đạt hiệu quả và mang lại lợi ích kinh tế cao như mô hình trồng tre lấy măng tại xã Đắk Roong có 57 hộ tham gia trên diện tích 22,8 ha; mô hình đào ao nuôi cá tại xã Krong cho 21 hộ (21 ao).

Cùng với thực hiện các dự án trên, dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cũng đã được coi trọng. Kế hoạch vốn được giao qua từng năm được tăng lên. Năm 2006 là 3.500 triệu đồng, năm 2010 là 12.270 triệu đồng. Nhờ vậy đường giao thông tăng thêm 28 km, trong đó có 3,5 km đường nhựa; 114 cống bản, 3 ngầm và 2 cầu treo; xây dựng được 400 m hệ thống kênh mương thủy lợi; xây dựng 2 trường học, các hạng mục, tường rào, sân bê tông. Đây là điều kiện thuận lợi để người dân đi lại, tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm dễ dàng, ổn định cuộc sống, tạo điều kiện cho các cháu học tập.

Mặt trận và các tổ chức đoàn thể, các cơ quan, đơn vị triển khai vận động ủng hộ xây dựng quỹ “ngày vì người nghèo” của huyện kết hợp với nguồn quỹ “ngày vì người nghèo” của tỉnh thời gian qua đã xây dựng 108 căn nhà “đại đoàn kết”, sửa chữa 14 căn nhà, hỗ trợ 65 tấm tôn lợp, 24 con giống; giúp đỡ 180 gia đình gặp khó khăn hoạn nạn; hỗ trợ chữa bệnh hiểm nghèo cho 5 đối tượng với 14 triệu đồng; Công ty Viettell hỗ trợ 140 triệu đồng để mua 23 con bò giống cấp cho hộ nghèo và huy động hàng nghìn ngày công lao động giúp đỡ cộng đồng dân cư. Ngoài ra Hội phụ nữ đã vận động chị em giúp nhau làm kinh tế gia đình, kết quả có 3.302 lượt chị giúp cho 3.716 chị em phụ nữ nghèo số tiền trên 200 triệu đồng, trên 2.000 con heo giống; 3 con bò giống, 7000 kg hạt giống các loại.

Phong trào tương thân tương ái giúp đỡ lẫn nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn được nhân rộng. Hội nông dân huyện đã phối hợp với Trạm khuyến nông, Trạm bảo vệ thực vật huyện tổ chức 233 lớp tập huấn về chuyển giao tiến bộ khoa học-kỹ thuật, hướng dẫn quy trình phát triển cây trồng, vật nuôi, trồng trọt, bảo vệ thực vật, chăn nuôi thú y... với 12.720 lượt hội viên nông dân tham gia; phối hợp với Trường Trung cấp nghề An Khê, Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội mở 37 lớp dạy nghề ngắn hạn cho 1.237 hội viên nông dân tham gia. Củng cố các tổ hoạt động vay vốn, thành lập 120 tổ tín chấp vay vốn “2308” với 2640 thành viên tham gia, giải ngân được 4.610 triệu đồng. Vận động xây dựng quỹ hỗ trợ nông dân với tổng kinh phí 321 triệu đồng.

Từ những kết quả trên, chúng tôi rút ra những kinh nghiệm sau:

Tạo chuyển biến về nhận thức của các tổ chức trong hệ thống chính trị, người nông dân về tính cấp thiết của công tác xóa đói giảm nghèo. Từ huyện đến xã đều thành lập Ban chỉ đạo giảm nghèo, cộng với sự lãnh đạo chỉ đạo quyết liệt của các cấp ủy, chính quyền nên các chương trình, dự án xóa đói giảm nghèo trên địa bàn huyện đạt được những kết quả nhất định.

Khảo sát đúng hiện trạng nghèo đói của từng địa bàn, từng đối tượng để có giải pháp có hiệu quả, không cào bằng, trên tinh thần phát huy dân chủ, khách quan, công bằng tạo sự phấn khởi trong nhân dân để thực hiện xóa đói giảm nghèo có hiệu quả.

Kết hợp đồng bộ các chủ thể, các hình thức, phương pháp, mô hình xóa đói giảm nghèo; đồng thời phát huy nội lực trong nhân dân, khắc phục tình trạng ỷ lại, trông chờ mà phải chủ động vươn lên làm giàu, chống tái nghèo trong các hộ nghèo.

Tăng cường kiểm tra đôn đốc việc xóa đói giảm nghèo gắn với giám sát tự chủ của nhân dân (đã có 7/8 xã làm chủ đầu tư); tổng kết rút kinh nghiệm, điều chỉnh kịp thời những thiếu sót, bất cập; coi trọng hiệu quả nguồn vốn; kiên quyết khắc phục tình trạng quan liêu, không để xảy ra hiện tượng lợi dụng để tham nhũng quỹ xóa đói giảm nghèo, làm ảnh hưởng uy tín của cán bộ.

Nguyễn Thế Tư

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,913,112


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.3 secs