Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 01/06/2011
Công tác xoá đói giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc miền núi huyện Ba Vì


Công trình nước phục vụ lớp mẫu giáo thôn Đầm Sản, xã Minh Quang

Ba Vì là huyện vùng bán sơn địa của Thành phố Hà Nội, có diện tích tự nhiên trên 428 km2, gồm 30 xã và 1 thị trấn, trong đó có 7 xã miền núi là Khánh Thượng, Ba Vì, Yên Bài, Vân Hòa, Tản Lĩnh, Minh Quang và Ba Trại có đông đồng bào Mường, Dao sinh sống. Các xã này có diện tích tự nhiên là 19.943 ha, số dân là 62.804 người (chiếm 46,5% tổng diện tích và 25% dân số toàn huyện).

Những năm qua, Ba Vì tập trung xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch ngành và điểm dân cư nông thôn; thu hút, sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư của Trung ương, Thành phố và các nguồn lực đóng góp của nhân dân cho xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng cấp đường giao thông, hệ thống thủy lợi, các hồ, đập phục vụ cho sản xuất... Đã làm mới trên 300 km đường giao thông nông thôn và các đường liên xã. Đến nay 31/31 xã, thị trấn của huyện đã có đường giao thông đến trung tâm. 100% xã, thị trấn có hệ thống viễn thông, điểm bưu điện-văn hóa xã, trạm y tế; 191/230 thôn, bản đã có nhà văn hóa. Năm 2009, huyện đã tập trung nguồn lực cho công tác xóa đói, giảm nghèo. Đã giải quyết việc làm cho 10.500 lao động; xóa được 3.116 hộ nghèo, giảm 3,2% số hộ nghèo so với năm trước. Cũng trong năm 2009, có 8.176 hộ thuộc diện nghèo được vay vốn tín dụng ưu đãi đầu tư phát triển kinh tế với số tiền 69 tỷ đồng. Kết quả bước đầu có 725 hộ đã vươn lên thoát nghèo nhờ số vốn vay này. Huyện cũng đã tổ chức được 100 lớp dạy nghề mây, giang, đan, móc sợi, làm nhựa... cho nông dân, tập trung vào các xã có tỷ lệ hộ nghèo cao như: Yên Bài, Minh Quang, Khánh Thượng…

Đối với vùng 7 xã dân tộc thiểu số, miền núi, huyện đã chỉ đạo thực hiện nhiều biện pháp thiết thực như: Xây dựng mô hình hỗ trợ, cho vay vốn, đưa giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt vào sản xuất, đồng thời chú trọng chuyển giao tiến bộ khoa học-kỹ thuật cho đồng bào để nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi. ở những vùng đất trũng, canh tác lúa kém hiệu quả, huyện chỉ đạo chuyển sang nuôi trồng thủy sản cho hiệu quả kinh tế cao gấp 5 lần trồng lúa. Phát triển chăn nuôi toàn diện, đa dạng hóa vật nuôi; đẩy mạnh thực hiện các dự án chăn nuôi bò sữa, bò thịt, nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi gia súc, gia cầm… phù hợp với từng vùng để khai thác tiềm năng, thế mạnh. Ngoài ra, huyện còn định hướng cho các xã miền núi phát triển chăn nuôi lợn với quy mô 500-2.000 con. Nhờ vậy sản xuất và đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi của huyện có những chuyển biến tích cực.

Tuy nhiên, công tác xóa đói giảm nghèo ở các xã dân tộc, miền núi vẫn đang gặp nhiều khó khăn, thách thức, đó là: Kết quả giảm nghèo chưa có tính bền vững, kế hoạch xóa đói, giảm nghèo chưa thực sự phù hợp với thực tế; nguồn lực chưa được sử dụng hiệu quả. Việc lồng ghép các chương trình, dự án liên quan đến giảm nghèo còn thiếu đồng bộ, một số chính sách chưa thực sự phù hợp với thực tiễn địa phương... do đó việc hỗ trợ để người nghèo thoát nghèo trong một thời gian ngắn và đảm bảo tính bền vững là khó thực hiện. Theo lãnh đạo huyện Ba Vì, hiện nay, số hộ nghèo ở các xã vùng dân tộc, miền núi chiếm trên 40%. Còn ở những xã, thôn bản thuộc diện đặc biệt khó khăn được đầu tư theo Chương trình 135 giai đoạn II, tỷ lệ hộ cận nghèo còn lớn, số hộ tái nghèo hàng năm còn cao, thậm chí có xã số hộ nghèo so với đầu năm 2009 không những không giảm mà còn tăng lên như ở Yên Bài.

Nguyên nhân của những tồn tại nói trên phần lớn là do điều kiện tự nhiên không thuận lợi, địa hình phức tạp, diện tích đất trồng ít và khó canh tác, trình độ dân trí còn thấp, việc tiếp thu tiến bộ khoa học-kỹ thuật ứng dụng vào sản xuất của người dân hạn chế, việc đưa cây, con giống mới vào sản xuất không kịp thời, thiếu đồng bộ; hầu hết các hộ nghèo đều thiếu lao động, thiếu vốn sản xuất... Có không ít hộ gia đình được dự án hỗ trợ cho vay tiền với lãi suất ưu đãi, nhưng sử dụng vào sản xuất, kinh doanh hiệu quả thấp, cá biệt có hộ vay về để đấy. Ngoài ra, người dân ít có cơ hội tiếp xúc với các dịch vụ, phúc lợi xã hội và các hoạt động của kinh tế thị trường.

Một khó khăn lớn trong công tác xóa đói giảm nghèo ở Ba Vì hiện nay là việc đào tạo nâng cao trình độ lao động, tạo việc làm tại chỗ cho người dân. Những năm qua Ba Vì rất quan tâm tới việc mở các lớp đào tạo nghề có thời hạn từ 3 tháng trở lên nhưng nhu cầu học nghề của các hộ nghèo lại rất ít. Tại một số xã, hầu hết số lao động đều không muốn học nghề vì mất nhiều thời gian và khi học xong không xin được việc làm, vì vậy, họ chọn con đường ngắn nhất để kiếm tiền với các nghề quen thuộc như thợ nề, phụ việc…

Cơ cấu đầu tư thiếu đồng bộ; cơ sở hạ tầng còn thiếu, xuống cấp, hiện còn thiếu tới 25 trạm biến áp và 20km đường dây hạ thế và 160km cần sửa chữa. Trong tổng số 257km đường giao thông nông thôn mới chỉ có 57km đường rải nhựa và bê tông, còn lại chủ yếu là đường đất.

Thực tế tại một số thôn, bản của các xã Minh Quang, Ba Vì là minh chứng. Trên đường vào thôn Đầm Sản, Trưởng thôn Nguyễn Văn Hải bộc bạch: “Thôn mình nghèo lắm, cả thôn có 215 hộ, trong đó có 152 hộ dân tộc Mường, thì quá nửa số hộ nghèo đói. Nghèo đói đi liền với ít học. Con em của Đầm Sản đi học chỉ để biết đọc, biết viết, rồi sau đó bỏ đi làm thuê, cứu đói cho gia đình”.

Hộ ông Nguyễn Văn Luyến có 6 khẩu, con gái lớn đi lấy chồng, hai con gái kế tiếp bỏ học ra Hà Nội làm thuê, cậu con út Nguyễn Văn Toàn học hết lớp 6 ở nhà đi phụ nề. Nhìn ảnh hai con gái xinh xắn, cười thật tươi, bà Thích nói: Mỗi tháng các cháu gửi về cho bố mẹ gần 1 triệu đồng.

Người dân thôn Đầm Sản còn khổ sở vì nguồn nước sinh hoạt khan hiếm. Giếng khơi không còn nước, giếng khoan chỉ có nước trong những tháng mùa mưa. Nhiều gia đình đào giếng sâu hơn 20m vẫn không có nước, nhiều nhà phải đi xa hàng cây số để lấy nước ở các sông, suối. Mỗi tuần bà con phải dành 3-4 buổi để đi lấy nước suối về dùng. Hầu hết các hộ trong thôn không có nhà vệ sinh, vì vậy bệnh đường ruột, đau mắt, bệnh ngoài da có nguy cơ bùng phát.

Điều đáng nói là với điều kiện tự nhiên, xã hội rất thuận lợi cho phát triển dịch vụ-du lịch nhưng nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền, nhân dân trong vùng còn hạn chế nên ngành kinh tế này phát triển không tương xứng với tiềm năng. Trên địa bàn 7 xã miền núi, hiện có 9 đơn vị đang hoạt động du lịch, nhưng sản phẩm du lịch nhỏ lẻ, tốc độ phát triển thấp, chỉ chiếm tỷ trọng 11% trong cơ cấu ngành kinh tế.

Thiết nghĩ, muốn xoá đói, giảm nghèo thành công ở vùng đồng bào dân tộc, miền núi nơi đây phải tiếp tục thực hiện và phát huy hiệu quả các chính sách hỗ trợ giảm nghèo như: chính sách văn hoá, y tế, giáo dục, vay vốn tín dụng ưu đãi; Tập trung hỗ trợ về sinh kế cho hộ nghèo thông qua trợ giúp các điều kiện và dịch vụ sản xuất, đào tạo nghề để tạo việc làm, tăng thu nhập; Ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống dân sinh, nhất là đầu tư cho các thôn ở vùng đặc biệt khó khăn. Tiếp tục đầu tư các dự án khai thác du lịch. Khi các dự án này được đầu tư xây dựng sẽ thu hút con em người dân tộc vào làm việc và kéo theo cơ hội, điều kiện để đồng bào phát triển dịch vụ, thương mại, tăng cường giao lưu văn hóa, xã hội.

Trao đổi với chúng tôi về hướng phát triển kinh tế-xã hội, Bí thư Huyện ủy Hoàng Thanh Vân khẳng định: Để thu hẹp khoảng cách giữa vùng dân tộc, miền núi với các xã khác trên địa bàn, huyện đã xây dựng “Đề án phát triển kinh tế-xã hội 7 xã miền núi đến năm 2015 và những năm tiếp theo” với mục tiêu tăng trưởng bình quân 15%/năm, thu nhập bình quân đầu người đạt 21,3 triệu đồng/năm (hiện nay đạt khoảng 7 triệu đồng/năm) và xác định du lịch-dịch vụ là một trong những ngành kinh tế chủ lực.

Để cụ thể hóa tiềm năng, thế mạnh của 7 xã miền núi, huyện xác định đưa kinh tế du lịch-dịch vụ trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, với những giải pháp đột phá như: tập trung xây dựng một số thương hiệu cho chè búp khô Ba Vì, nước khoáng, cây dược liệu… Hiện nay, huyện đã xây dựng được thương hiệu sữa Ba Vì, chè búp khô Ba Vì. Tập trung xây dựng, khai thác các điểm du lịch quanh núi Ba Vì như Ao Vua, Khoang Xanh, Đầm Long, Thác Đa, Thác Mơ, Thiên Sơn - Thác Ngà... và đặc biệt là khu du lịch sườn Đông, sườn Tây Vườn Quốc gia Ba Vì. Nơi đây có nhiều di tích lịch sử với kiến trúc độc đáo đã được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia như đền Hạ, đền Trung, đền Thượng; Khu di tích lịch sử K9... Trước mắt, huyện sẽ đầu tư vốn hoàn thành các tuyến đường giao thông huyết mạch như: Vườn Quốc gia - Ao Vua đi Ba Trại, đường sườn Tây núi Ba Vì, đường K9 - Chẹ, đường 415-đền Hạ, cầu Sổ và cầu Lặt-Minh Quang; trùng tu, tôn tạo đền Thượng, đền Hạ, đền Trung; xây dựng nhà văn hóa ở các xã, bảo tồn tết Nhảy và các loại hình văn hóa dân gian như múa chuông, múa rùa, sắc bùa, bắn cung, bắn nỏ, cồng chiêng… Những định hướng phát triển đó hứa hẹn sẽ đánh thức tiềm năng của một vùng có nhiều lợi thế về du lịch - dịch vụ của Thủ đô.

Nguyễn Kim  Nhung

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,892,860


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.3 secs