Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 01/06/2011
Tuyên Quang thực hiện các chính sách dân tộc giai đoạn 2006-2010 và những giải pháp trong giai đoạn tiếp theo


Phụ nư dân tộc Dao Tiền ở Tuyên Quang

Tuyên Quang là tỉnh miền núi có diện tích tự nhiên là 5.868 km2, vùng núi cao chiếm trên 50% diện tích của tỉnh, phần còn lại là vùng núi thấp và trung du; tỉnh có 05 huyện và 01 thành phố với 141 xã, phường, thị trấn. Theo kết quả điều tra ngày 01/4/2009, tỉnh Tuyên Quang có 727.505 người với 23 dân tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 52%. Là tỉnh miền núi, địa hình chia cắt do đó việc đi lại giữa các khu vực trong địa bàn xã, liên xã gặp nhiều khó khăn; trình độ sản xuất của đồng bào các dân tộc thiểu số trong tỉnh còn thấp, còn nhiều tập tục lạc hậu, nền kinh tế chủ yếu là nông - lâm nghiệp kết hợp mô hình kinh tế trang trại. Cơ cấu kinh tế có công nghiệp-xây dựng: 30,7%, dịch vụ: 33,6%, nông-lâm-ngư nghiệp: 35,7%. GDP bình quân hàng năm là 11% (2000-2005).

Sau 5 năm triển khai thực hiện, Chương trình 135 giai đoạn II và một số chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh đã góp phần tích cực vào sự thay đổi và phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn, tạo nên sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa. Cơ sở hạ tầng được xây dựng và mở rộng nhiều hơn, có nhiều công trình được nâng cấp và xây dựng mới; nhận thức của đồng bào các dân tộc thiểu số về tập quán sản xuất dần được thay đổi, góp phần cải thiện và nâng cao đời sồng nhân dân, tỷ lệ đói nghèo toàn tỉnh giảm từ 35,64% (năm 2006) xuống còn 14,85% (năm 2010) trong đó tại các xã đặc biệt khó khăn giảm từ 67,8% (năm 2006) xuống còn 25% (năm 2010).
 
 Nhờ thực hiện các chính sách, các hợp phần dự án của Chương trình 135 giai đoạn II, đã có 524 công trình hạ tầng được đầu tư xây dựng với tổng kinh phí trên 185 tỷ đồng; qua đó đã mở mới, nâng cấp được hơn 175 km đường, đảm bảo diện tích cho 984 ha đất nông nghiệp, xây dựng mới và sửa chữa 1.123 m2 nhà công vụ cho giáo viên, nhà bán trú cho học sinh; cấp điện sinh hoạt cho 3.747 hộ, cấp nước sinh hoạt cho 402 hộ; Dự án phát triển sản xuất được đầu tư trên 46,5 tỷ đồng để hỗ trợ các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư và chế biến nông, lâm sản, hỗ trợ máy móc sản xuất nông lâm nghiệp cho 2.779 hộ gia đình, hỗ trợ giống cây, con cho 14.812 lượt người, xây dựng 150 mô hình sản xuất để nhân rộng trên địa bàn; tổ chức các lớp khuyến nông, khuyến lâm. Bên cạnh đó, có 2.207 lượt thanh niên dân tộc thiểu số được đào tạo nghề; trên 51.000 học sinh được hỗ trợ tiền ăn học để đến lớp.
 
 Đặc biệt, Chương trình đã nâng cao năng lực cán bộ xã về quản lý kinh tế, quản lý xã hội; đã gắn được trách nhiệm của trưởng thôn bản và cộng đồng trong việc thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, nhiều vấn đề cấp thiết ở cơ sở được giải quyết, diện mạo nông thôn miền núi dần thay đổi, củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc.
 
 Tính đến hết năm 2010, có một số chỉ tiêu đã đạt so với mục tiêu Chương trình đề ra, như: Có trên 70% số hộ có thu nhập trên 3,5 triệu đồng/năm; 100% xã làm chủ đầu tư công trình cơ sở hạ tầng; 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã; 100% các xã trên địa bàn đều có trường tiểu học và Trung học cơ sở; 85% số thôn bản có điện lưới quốc gia; tỷ lệ huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 100%, tỷ lệ huy động học sinh Trung học cơ sở đến trường đạt trên 90%; công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân, công tác dân số kế hoạch hoá gia đình ngày càng được nâng lên, cơ bản giải quyết xong vấn đề đảm bảo lương thực cho người dân (bình quân lương thực quy thóc đạt 350kg/người/năm) góp phần giảm nghèo, nâng cao thu nhập.
 
 Ngoài những kết quả từ Chương trình 135 giai đoạn II, việc thực hiện các chính sách dân tộc theo các Quyết định số 134, Quyết định số 32, Quyết định số 33... của Thủ tướng Chính phủ và việc lồng ghép triển khai thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia và các dự án liên quan trực tiếp để xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh cũng đã đạt được những kết quả nhất định, tạo động lực thúc đẩy đời sống kinh tế-xã hội của đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển, đáp ứng nguyện vọng thiết thực của nhân dân. Đã có 1.448 hộ hộ nghèo được hỗ trợ vay 6.823 triệu đồng để phát triển sản xuất, 39 hộ được hỗ trợ 1.470,3 triệu đồng để di chuyển thực hiện định canh - định cư. Thông qua việc thực hiện Quyết định số 134 đã có 3.086 hộ dân tộc thiểu số nghèo được hỗ trợ nhà ở, 421 hộ được hỗ trợ đất sản xuất, 187 hộ được hỗ trợ đất ở, 72 công trình nước sinh hoạt tập trung được đầu tư để phục vụ đời sống cho trên 5.000 hộ đồng bào. Với những kết quả đó đã góp phần củng cố quốc phòng, ổn định an ninh. Từ năm 2006 đến năm 2010 trên địa bàn tỉnh không có điểm “nóng”. An ninh chính trị, trật tự xã hội trong vùng đồng bào dân tộc, vùng căn cứ cách mạng được giữ vững, nhân dân các dân tộc đoàn kết tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước; ra sức sản xuất không ngừng nâng cao đời sống.
 
 Mặc dù sau 5 năm thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II, các chính sách dân tộc và việc lồng ghép triển khai thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia và các dự án liên quan trực tiếp để xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh đã có những tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh, nhất là đối với các xã đặc biệt khó khăn, góp phần thay đổi phong tục, tập quán sản xuất lạc hậu của người dân, song tính bền vững chưa cao; một số mục tiêu, chỉ tiêu chưa đạt kế hoạch đề ra như việc đảm bảo có trên 80% xã có công trình thủy lợi nhỏ nhưng mới đạt 70% số xã; đảm bảo 85% diện tích đất lúa 2 vụ được tưới chắc nhưng mới thực hiện được 65% diện tích, tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch mới đạt 62%/80% theo mục tiêu đề ra; 75% hộ được sử dụng điện sinh hoạt/80% số hộ theo mục tiêu.
 
 Bên cạnh đó, công tác xác định, bình xét đối tượng hưởng lợi các chính sách còn lúng túng, hoạt động giám sát còn hạn chế chưa toàn diện; hạ tầng tuy mới cải thiện nhưng chưa đồng bộ, thu nhập bình quân đầu người thấp, tỷ lệ hộ nghèo và hộ cận nghèo tại các vùng dân tộc thiểu số, vùng khó khăn còn cao so với vùng khác trong tỉnh. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở một số lĩnh vực còn chậm, sản xuất nông lâm nghiệp còn manh mún chưa quy hoạch được vùng chuyên canh để sản xuất hàng hóa; hiệu quả lồng ghép các nguồn vốn từ chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án chính sách liên quan đến xóa đói giảm nghèo chưa cao, còn dàn trải.
 
 Phát huy kết quả đạt được trong thực hiện Chương trình 135 và các chính sách dân tộc trên địa bàn giai đoạn 2006-2010, tỉnh Tuyên Quang xác định công tác dân tộc và các chương trình xóa đói, giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, có ý nghĩa tổng hợp cả về kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh, quốc phòng của tỉnh.
 Trong những năm tới, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền việc thực hiện chính sách dân tộc ở tất cả các cấp, các ngành, các đoàn thể nhân dân, mọi cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dân.
 
 Quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ cơ sở, cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số phấn đấu đến năm 2015, có trên 95% cán bộ công chức cấp xã có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên, trong đó trên 50% có trình độ cao đẳng, đại học. Đảng viên là cán bộ có trình độ trung cấp lý luận trở lên.
 
 Các ngành chức năng của tỉnh, huyện hướng về cơ sở; tập trung cho cơ sở triển khai và tổ chức thực hiện có hiệu quả, gắn chương trình hành động số 23 CT/BCH của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XIV); Kết luận số 57 KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24 NQ/TW của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở, thực hiện tốt các chính sách dân tộc giai đoạn 2011-2015 trên cơ sở Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và các Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV đề ra trong đó tập trung cho các vấn đề đột phá.
 
 Huy động mọi nguồn lực đầu tư, xây dựng đồng bộ, phát triển hệ thống đường giao thông nông thôn; Bê tông hóa các tuyến đường thôn bản theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, ưu tiên cho các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn, các xã vùng căn cứ cách mạng nơi có các di tích lịch sử - văn hóa.
 
 Tiếp tục quy hoạch đầu tư xây dựng hệ thống thủy lợi, các công trình hồ chứa nước phục vụ sản xuất; khai thác đầu tư xây dựng các nguồn nước hợp vệ sinh phục vụ cho đời sống nhân dân; thu hút, khuyến khích các nguồn lực đầu tư cho chế biến hàng hóa nông lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng, mở rộng sản xuất, giải quyết việc làm cho người lao động tại địa phương; thu hút đầu tư phát triển du lịch lịch sử-văn hóa, du lịch sinh thái, các lễ hội truyền thống của đồng bào các dân tộc.
 
 Thực hiện tốt các giải pháp, bài học kinh nghiệm đã đề ra, tiếp tục rà soát, điều chỉnh bổ sung quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn giai đoạn 2010-2015 và định hướng đến năm 2020; đẩy nhanh tiến độ quyết toán vốn đầu tư các công trình giai đoạn 2006-2010; đầu tư xây dựng các công trình gắn với tiêu chí xây dựng nông thôn mới... Đối với các xã cơ bản hoàn thành các mục tiêu của các chương trình, chính sách dân tộc, cần phát huy hiệu quả các công trình đã đầu tư xây dựng; xây dựng quy chế quản lý, sử dụng công trình hiệu quả để bàn giao công trình cho nhân dân sở tại quản lý, vận hành.
 
 Thực hiện tốt quy chế phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong việc vận động nhân dân thực hiện tốt chương trình xóa đói giảm nghèo, huy động sự tham gia đóng góp của nhân dân.

Hà Hữu Chinh
 

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,892,620


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.3 secs