Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 27/12/2010
Cần một chương trình đặc biệt để phổ cập tiếng nói, chữ viết phổ thông cho học sinh dân tộc thiể số

Trong cộng đồng 54 dân tộc của nước ta có 53 dân tộc thiểu số. Với kết quả Tổng điều tra dân số năm 2009 thì 53 dân tộc thiểu số có 12,253 triệu người chiếm 14,3% dân số cả nước. Trong số 53 dân tộc thiểu số có 16 dân tộc có số dân dưới 1 vạn người, đặc biệt có 5 dân tộc: Brâu, Ơ-đu, Pu Péo, Rơ Măm, Si La có dân số dưới 1 nghìn người.

Nước ta, 3/4 diện tích lãnh thổ quốc gia là miền núi. Nơi đây địa hình hiểm trở, chia cắt phức tạp, thường xuyên xảy ra lũ ống, lũ quét, sạt lở đất. Miền núi là nơi sinh sống chủ yếu của đồng bào các dân tộc thiểu số. Đây là địa bàn có vị trí chiến lược về kinh tế, quốc phòng, an ninh và môi trường sinh thái, là “lá phổi xanh”, là “phên dậu” của nước nhà.
 
 Nhận rõ vị trí đặc biệt quan trọng của địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Đảng và Nhà nước ta đã tập trung đầu tư cho phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc, miền núi thông qua các chính sách, chương trình, dự án. Chỉ tính từ những năm đổi mới, nhất là từ khi có Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị (tháng 11/1989) và Quyết định 72 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về một số chủ trương, chính sách phát triển kinh tế-xã hội miền núi, vùng dân tộc thiểu số, đến nay đã có 76 chính sách, chương trình, dự án được ban hành, triển khai thực hiện. Trong số đó có nhiều chính sách trực tiếp và gián tiếp dành cho công tác giáo dục dân tộc, cho học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số, như: Chính sách ưu đãi đối với cán bộ quản lý và nhà giáo công tác ở vùng dân tộc; Chính sách ưu đãi đối với học sinh dân tộc thiểu số; Chính sách về phát triển cơ sở hạ tầng, trang thiết bị giáo dục; Chính sách đối với trường Dân tộc Nội trú; Chính sách cử tuyển và dự bị đại học dân tộc; Chính sách về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số. Chính sách bảo tồn và phát huy tiếng nói, chữ viết các dân tộc thiểu số...
 
 Các chính sách trên được triển khai thực hiện đã làm chuyển biến và nâng dần chất lượng giáo dục-đào tạo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh dân tộc thiểu số học tập, trực tiếp quyết định đến chất lượng nguồn nhân lực trẻ dân tộc thiểu số - nhân tố cơ bản, quyết định đến sự phát triển bền vững của vùng dân tộc và miền núi.
 
 Hệ thống trường Phổ thông Dân tộc Nội trú với nhiệm vụ tạo nguồn đào tạo cán bộ và nguồn nhân lực có trình độ cao. Học sinh của trường được Nhà nước nuôi dạy và đảm bảo các điều kiện để phát triển. Hơn 10 năm qua, hệ thống trường Phổ thông Dân tộc Nội trú phát triển mạnh. Năm học 1997-1998, Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú có ở 39 tỉnh với 211 trường và gần 50.000 học sinh, đến năm học 2007-2008 (10 năm sau) đã phát triển ở 49 tỉnh và thành phố với 285 trường bao gồm 7 trường ở Trung ương, 47 trường tỉnh, 231 trường huyện và cụm xã với khoảng 85 nghìn học sinh.
 
 Hệ thống trường phổ thông bán trú, rồi bán trú dân nuôi ra đời chủ yếu tập trung ở các tỉnh vùng núi phía Bắc và Bắc Trung bộ như: Sơn La, Lào Cai, Hà Giang, Điện Biên... Năm học 2008-2009, Trường phổ thông Dân tộc bán trú đã có ở 24 tỉnh, với hơn 14 vạn học sinh ở bán trú tại 1657 trường, trong đó cấp tiểu học chiếm 26,79%, cấp Trung học cơ sở chiếm 55,33%, Trung học phổ thông chiếm 17,88%.
 
 Việc tổ chức cho học sinh ở nội trú, bán trú trong các trường phổ thông đã đỡ cho các em phải đi lại vất vả, có nhiều thời gian hơn cho học tập. Nhờ mô hình này mà tỷ lệ học sinh đến trường đảm bảo hơn, chất lượng học tập cũng cao hơn. Học sinh ở các trường Phổ thông bán trú là nguồn tuyển sinh có chất lượng vào các trường Phổ thông Dân tộc nội trú. Không ít học sinh đã tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng trở về quê hương công tác.
 
 Với trường Dự bị đại học Dân tộc, đến nay cả nước đã có 4 trường Trung ương đặt ở các khu vực: Miền núi phía Bắc (Việt Trì-Phú Thọ), vùng Bắc miền Trung (Sầm Sơn-Thanh Hóa), miền Trung, Tây Nguyên (Nha Trang-Khánh Hòa) và Nam Bộ (Thành phố Hồ Chí Minh). Ngoài ra còn có các khoa Dự bị đại học tại các trường đại học. Từ năm 2000 đến nay, đã có hơn 13.500 học sinh là con em dân tộc thiểu số theo học. Sau thời gian học dự bị đại học, 95% học sinh đủ điều kiện vào học đại học.
 
 Mạng lưới trường Đại học, Cao đẳng được xây dựng và phát triển. Hiện nay, vùng Đồng bằng sông Cửu Long có 24 trường Đại học và cao đẳng; vùng Tây Nguyên có 3 trường Đại học và 4 trường cao đẳng; vùng núi phía Bắc có 9 trường Đại học, 24 trường cao đẳng. Hệ thống các trường đại học, cao đẳng đã tiếp nhận nhiều học sinh là con em các dân tộc thiểu số và 95% số học sinh dân tộc thiểu số học tại các trường dự bị đại học vào học.
 
 Với chính sách cử tuyển được thực hiện từ năm 1999, tính đến năm 2008, cả nước đã có hàng nghìn học sinh là con em của 52/53 dân tộc thiểu số (trừ dân tộc Rơ Măm) được theo học hệ cử tuyển.
 
 Chính sách bảo tồn và phát huy tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số, đến nay đã triển khai dạy và học tiếng dân tộc thiểu số ở 30 tỉnh; biên soạn 30 bộ giáo trình bằng 8 thứ tiếng; đưa 1.200 công trình nghiên cứu ngôn ngữ của 10 dân tộc lên sóng phát thanh-truyền hình ở Trung ương và địa phương.
 
 Những kết quả kể trên thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự cố gắng của cấp ủy, chính quyền, của ngành chức năng và các thầy cô giáo và học sinh ở vùng dân tộc, miền núi trong sự nghiệp trồng người. Đó là một thực trạng tích cực. Song bên thực trạng tích cực ấy là những bất cập, tồn tại, hạn chế không nhỏ.
 
 Thứ nhất, chất lượng giáo dục thấp, bất cập với kỳ vọng tạo nguồn đào tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số và tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho phát triển kinh tế-xã hội, cho sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa ở các địa phương và của đất nước. Tình trạng đồng bào dân tộc thiểu số nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới không biết tiếng phổ thông đang còn phổ biến và cán bộ xã, thôn, bản dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, biên giới phần nhiều chưa học xong trung học phổ thông, một số chưa học hết cấp tiểu học, không thông thạo tiếng phổ thông vẫn còn. Tình trạng này sẽ còn kéo dài nếu chất lượng giáo dục dân tộc không được nâng lên và không có những thay đổi cơ bản trong chính sách giáo dục dân tộc.
 
 Số học sinh là con em các dân tộc thiểu số trong độ tuổi đi học ở các cấp: Trung học cơ sở, tiểu học, mẫu giáo không đến trường, lớp học còn nhiều, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực trẻ của các dân tộc thiểu số, nhất là ở những dân tộc có dân số ít (dưới 1 vạn người).
 
 Thứ hai, chính sách của Nhà nước dành cho phát triển giáo dục dân tộc nhiều, phủ đủ các lĩnh vực song chưa thấy lĩnh vực cốt yếu trước đòi hỏi hội nhập vào cộng đồng và đang có sự chồng chéo. Một đối tượng, một nội dung nhiều chính sách cùng đề cập. Kinh phí để thực hiện bất cập; việc tổ chức thực hiện phụ thuộc chủ yếu vào trách nhiệm của địa phương; một số chính sách nặng về giải quyết tình thế, chưa khơi dậy và phát huy nội lực, tinh thần tự lực vươn lên, ngược lại đang tạo ra tâm lý trông chờ, ỷ lại. Vùng dân tộc, miền núi nơi kinh tế-xã hội chậm phát triển đang là địa bàn khó khăn nhất của cả nước. Khoảng cách phát triển giữa vùng dân tộc, miền núi với đồng bằng, đô thị, giữa đồng bào dân tộc thiểu số với dân tộc đa số ngày càng lớn. Để vùng dân tộc, miền núi phát triển đi lên, phải có sự quan tâm của “Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị” như Nghị quyết Hội nghị lần thứ bẩy Ban chấp hành Trung ương khóa IX về công tác dân tộc chỉ ra. Song nhân tố quyết định của sự phát triển, đi lên ấy là đồng bào các dân tộc, là nguồn nhân lực trẻ-sản phẩm của giáo dục dân tộc. Để vùng dân tộc, miền núi phát triển cần những người có trình độ ít nhất phải ngang bằng hoặc cao hơn các khu vực khác. Để có được những con người ấy, nguồn nhân lực ấy không thể bằng những ưu tiên, châm trước mà phải lo cho được mặt bằng kiến thức chung ở đầu ra với mọi cấp học, nhất là ở cấp học cao.
 
 Từ thực tế thực hiện trong những năm qua cho thấy chính sách dành cho giáo dục dân tộc bộc lộ nhiều khiếm khuyết đòi phải được xem xét, đánh giá, tổng kết một cách khách quan, khoa học để có những sửa đổi, bổ sung và có những chính sách mới, thiết thực phù hợp với yêu cầu phát triển.
 
 Trong quá nhiều vấn đề đòi được quan tâm, đầu tư để giáo dục dân tộc phát triển phải tìm chọn cho được vấn đề cơ bản, cấp bách có tính “yếu huyệt” của giáo dục dân tộc hiện nay để có chính sách đủ mạnh tập trung giải quyết.
 
 Mới đây có một bài viết trên báo Đảng của một địa phương (tỉnh Gia Lai) với một cái tít khá quyết liệt: Xin thôi chức Hiệu trưởng nếu còn tình trạng “ngồi nhầm lớp”. Bài báo nói cụ thể: 115 học sinh của Trường Tiểu học Nguyễn Trãi (xã Chư Mố-huyện Ia Pa) hoàn thành chương trình tiểu học lên học tại trường Trung học cơ sở Nay Der, trong số đó có 10% chưa đọc thông, viết thạo tiếng phổ thông. Việc đó được một học sinh nói: “ Trong lớp nhiều bạn cũng biết đọc nhưng đọc rất chậm, học cái này, quên cái kia, do đó thầy cô sắp xếp ngồi chung bàn với những bạn khá để được kèm cặp thêm”. Song sự kèm cặp này không dừng ở trong giờ học mà còn cả ở những buổi kiểm tra hoặc thi học kỳ. Nhiều em chép bài của bạn nên có điểm, qua được các kỳ thi và lên lớp dù chưa đọc thông viết thạo tiếng phổ thông. Ông hiệu trưởng trường Tiểu học Nguyễn Trãi thừa nhận việc đó song nói việc để học sinh “ngồi nhầm lớp” không phải do chạy theo thành tích và hứa với đoàn kiểm tra của Sở là nếu năm học 2010-2011, còn tình trạng này ông sẽ xin thôi chức Hiệu trưởng.
 
 Chất lượng giáo dục dân tộc bao giờ khởi sắc khi mà cha mẹ các em nhiều người đang “mù chữ”? Và còn học sinh dân tộc không đọc thông viết thạo tiếng phổ thông? Biết đâu, có em trong số học sinh ấy sau đó được bổ sung vào đội ngũ cán bộ của địa phương? Để tình trạng nhiều cán bộ xã, thôn bản dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, biên giới “chưa học xong Trung học phổ thông, một số chưa học hết cấp tiểu học, không thông thạo tiếng phổ thông” còn tiếp diễn.
 
 Đất nước ta đang trong quá trình hội nhập toàn diện với quốc tế. Chúng ta ai cũng thấy rõ sự thiếu hụt Anh ngữ ảnh hưởng thế nào, trở ngại thế nào đến qúa trình hội nhập; đến việc tiếp thụ khoa học, công nghệ của các quốc gia phát triển; tiếp nhận những thành tựu tiêu biểu về trí tuệ của nhân loại cho phát triển đất nước.
 
 Còn với các dân tộc thiểu số bao giờ theo kịp dân tộc đa số? Khoảng cách phát triển giữa miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn với đồng bằng, đô thị khi nào mới được rút ngắn, thu hẹp khi mà tiếng nói, chữ viết phổ thông có vị trí hết sức quyết định đến chất lượng học tập của học sinh dân tộc thiểu số và là phương tiện đặc hữu-“chiếc cầu vàng” của quá trình hòa nhập với cộng đồng dân tộc Việt Nam của các dân tộc thiểu số lại đang là một “ngoại ngữ” quá khó và chưa được chúng ta nhìn nhận đánh giá đúng mức để có sự đầu tư xứng đáng.
 
 Rất mong Nhà nước mà trực tiếp là Bộ Giáo dục-Đào tạo cùng với việc quan tâm “tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình nhằm gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giúp cho học sinh dân tộc thiểu số dễ dàng tiếp thu kiến thức khi học tập trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác” (khoản 2, điều 7 Luật Giáo dục năm 2005) cần đề xuất với Chính phủ có một Chương trình đặc biệt tập trung phổ cập tiếng nói, chữ viết phổ thông (xoá mù chữ) cho đồng bào các dân tộc thiểu số nhất là ở vùng sâu, vùng xa, địa bàn đặc biệt khó khăn để từ các cháu mẫu giáo đến người già không ai còn xa lạ với tiếng nói, chữ viết của đất nước mình.

Nguyễn Phương Thảo

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,859,883


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs